Godel

Vì cái bài kia nó dính tới mấy cái khái niệm consistent, incomplete .. vân vân nên nó hơi lộn xộn. Nên tôi viết lại cái này bỏ hết các khái niệm đó ra cho nó dễ hiểu. Nếu các bạn thấy cái kia mệt thì coi cái này, nó dễ hiểu lắm.

1. Cũng như ngôn ngữ, Tóan học là sản phẩm của con người

Âm nhạc, thơ ca, hội họa … cũng đều vậy cả, đều là sản phẩm của con người. Con người dùng những cái đó để diễn tả thế giới mà họ đang sống, để tìm hiểu thế giới đó. Ưu điểm của tóan học là nó cho phép chúng ta diễn tả thế giới này về mặt định lượng khá chính xác, từ đó chúng ta có thể dùng nó để tiên đóan một số điều và kiểm tra được.
TUY NHIÊN, chúng ta nên biết rằng không tồn tại một phương pháp nào có thể diễn tả thế giới thực chính xác 100% cả. Ví dụ, hội họa có thể diễn tả sắc đẹp của hoa hậu, nhưng không phải là 100% chính xác, vì nếu chúng ta lấy kính lúp, kính hiển vi ta rọi em hoa hậu thì ta sẽ thấy các tế bào, còn rọi bức tranh thì ta hổng thấy.
Hệ hình thức mà cụ thể cái mà ta có thể thấy cái computer cũng là sản phẩm của con người. Nó cũng có thể diễn tả phần nào cái thế giới này, chứ không thể diễn tả 100%. Ví dụ, tôi có thể dùng đại số vector và ngôn ngữ lập trình tôi chiếu, tôi quay, tôi tịnh tiến ….để mô phỏng một không gian 3D đánh lừa thị giác, nhưng thiệt sự nó hổng phải là 3D thiệt.

Một cái ví dụ mà ai cũng biết đó là câu đố, có 10 chim đậu trên cọng dây điện, bắn rớt 1 con, hỏi trên đó còn mấy con ?
Tóan học có thể mô tả thực tế này bằng 1 biểu thức là 10 – 1.
Sau đó dẫn 1 dự đóan là còn 9 con, nhưng đó là 1 dự đóan sai vì thực tế 9 con còn lại nó nghe cái đùng nó bay hết trơn.

Một thí dụ nữa, trong thực tế có cái đường tròn, lấy cái chu vi chia cho đường kính ta được 1 con số. Đó là số PI. Con số đó trong tóan kêu là con số Siêu Việt, muốn diễn tả nó người ta phải dùng chuỗi số gồm vô số các số hạng. Ta thấy cái rất bình thường trong thiên nhiên mà giờ đây ta diễn tả nó trong computer là đã “bó tay” vì làm sao mà diễn tả được vô số các chữ số thập phân ? Cho nên nó thiệt sự là gần đúng thôi.

Khi chúng ta diễn tả một hiện tượng nào đó bằng tóan học, thì có nghĩa rằng CÓ MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA THẾ GIỚI TA CÓ THỂ DÙNG TOÁN HỌC ĐỂ DỰ ĐOÁN MỘT CÁCH GẦN ĐÚNG, chứ KHÔNG CÓ NGHĨA rằng thế giới ta đang sống là tóan học.

2. Hệ hình thức cũng y chang vậy, nó cũng là 1 sản phẩm của con người, nó là 1 GAME mà chúng ta đặt luật chơi cho nó.

Đó là về lý thuyết, còn cụ thể hơn nó đã được các nhà kỹ thuật, kỹ sư cụ thể hóa thành cái Computer. Nó có thể mô hình hóa, giúp chúng ta rất nhiều điều nhưng nó không phải là thế giới thực.

3. Chương trình Hilbert là cái gì ?

Ở trên chúng ta nói tóan học là sản phẩm của con người. Nhưng bản chất thiệt sự của nó, chẳng hạn số 1, số 2, số 3 … nó là cái gì, thiệt sự là 1 câu hỏi rất khó trả lời. Như chúng ta biết, cái gì mà khó trả lời thì ông Triết ổng nhảy vô ổng … trả lời. Mà mấy ông này mà trả lời thì thiệt tình cũng hổng biết ông nào trúng ông nào sai.
Nhưng các nhà tóan học cũng như các nhà khoa học thì khác, người ta tìm cách trả lời nhưng trên cái cơ sở FALSIFY, VERIFY … tức là có thể kiểm tra, và đưa đến 1 cái gì khác.

Ông Hilbert cũng vậy, ổng thử trả lời đại khái thế này
Phải chăng tóan học cũng là 1 hệ hình thức, và nếu như vậy thì chúng ta hãy thử hình thức hóa số học coi sao ??

Đây là 1 sáng kiến rất là hay, bởi vậy ông Hilbert mới là nhà tóan học vĩ đại. Trong tóan học hay khoa học vấn đề không phải là 1 giả thuyết đúng hay sai, mà là cái giả thuyết đó thúc đẩy tóan học hay khoa học đi lên hay không. Hiện giờ chúng ta ai cũng biết cái giả thuyết đó cũa ông Hilbert là SAI, NHƯNG nếu ông Hilbert không đặt câu hỏi đó thì vĩnh viễn triết học không bao giờ có câu trả lời, và cũng chẳng có định lý GOdel.

Cái hay là cách đặt vấn đề của ông Hilbert là có thể FALSIFY. Khi Godel làm việc trong chương trình Hilbert, Godel tìm ra được 2 định lý chỉ ra giới hạn của hệ hình thức, cho thấy hệ hình thức không thể diễn tả được Số Học một cách đầy đủ.

Những người hậu thế kiểu như ông Phạm Việt Hưng ngồi đó mà dám chê Hilbert là trực giác kém, tôi thiệt không biết ông Hưng có mắc bệnh vĩ cuồng không ? Không có chương trình Hilbert với các yêu cầu mà 1 hệ hình thức cần có để diễn tả số học, thì làm gì có định lý Godel.

Cái óc của ông Hưng không phải là cái óc của người học tóan, hay học khoa học, mà là cái óc của chánh trị. Ông ta chia phe ra, phe Chúa, và phe không Chúa, tất nhiên đây là sự chia phe tưởng tượng của ông Hưng chứ các nhà tóan học và khoa học không có chia phe như vậy. Phe nào mà có cái định lý, hay định luật mà ổng tự diễn giải là chung phe với ổng, mặc dù ổng cũng chẳng hiểu định luật, hay định lý đó nói cái gì, thế là ổng tâng lên mây xanh. Còn ai mà lỡ có cái chi ngược lại ý ổng (dầu không cố ý) thời liền bị chê … thiếu trực giác.
Thiệt là oan mạng cho ông Hilbert lỡ mần phật ý thầy Hưng. Chứ thiệt ra ông Hilbert là 1 trong những nhà tóan học VĨ ĐẠI NHẤT của thế kỷ 20, và cả lịch sử lòai người. Bạn có thể lên mạng mà search coi các nhà tóan học đánh giá ổng ra sao. Ai cũng biết trực giác đóng vai trò quan trọng như thế nào trong tóan học, dám đánh giá Hilbert trực giác yếu chắc chỉ có thầy Hưng.

Ông Hưng trong 1 buổi nói chuyện về định lý này than thở rằng tại sao sinh viên không được học mặc dù nó dễ hiểu !!!!! Trong khi ông lại người hiểu sai định lý này ! Thiệt tình.

4. Ông Hưng hiểu sai chổ nào ?

Định lý Godel là về 1 hệ logic hình thức. Cách phát biểu chánh thức của nó tôi có chép trong bài kia, và tôi cũng có chỉ ra ông Hưng cũng có chép lại trong 1 bài viết của ông nhưng bỏ hết các giả thiết của định lý. Một ông thầy giáo dạy tóan, mà chép 1 cái định lý lại bỏ hết trơn giả thiết, thì thôi.

Giờ đây tôi nói nôm na là cái máy tính dù là máy tính bự đến đâu cũng không thể diễn tả được hết hệ số học của tóan học vì trong đó tồn tại những mệnh đề tự reference khiến cái máy tính chạy hoài không dừng được.

Đại khái là cái định lý đó nó nói như thế chứ ở đâu mà ông Hưng dùng nó để dạy thiên hạ rằng tóan học là “bất tòan” vân vân và vân vân ….

Tóan học có bất tòan chăng ? đúng, nó bất tòan như tôi đã nói ở trên vì nó cũng chỉ là sản phẩm của con người, như tôi có đưa ví dụ ở trên.

Nhưng trong cái định lý Godel thì chữ “bất tòan” đó là “incomplete” là 1 khái niệm của hệ hình thức. Cái khái niệm incomplete đó chúng ta chỉ có thể nói trong 1 HỆ. Ví dụ, nói về 1 hệ như hệ ZFC chẳng hạn. Và tôi cũng có đưa ví dụ trong bài kia là hệ hình học Euclidean vì không diễn tả số học nên không thể áp dụng định lý Godel. Cái khái niệm Incomplete của định lý Godel mà nói cho tóan học là VÔ NGHĨA, vì tóan học có nhiều hệ trong đó, hình học Euclidean, hình học Riemann, ZFC … tùm lum , thì làm sao có thể  áp dụng định lý Godel cho cả toán học được. Bởi vì nếu coi tóan học là 1 hệ được, thì cái ông Hilbert ổng đã thống nhất tóan học thành 1 hệ hình thức rồi. Nhưng chương trình HIlbert thất bại chứng tỏ định lý Godel không thể áp dụng cho tóan học, vì định lý đó là định lý dành cho hệ hình thức. Nên nếu nói từ định lý Godel mà suy ra tóan học là bất tòan (incomplete) như ông Hưng đã nói trong cái clip trên mạng thì là ông Hưng không hiểu định lý Godel nói cái gì.

Và khủng khiếp hơn là thầy giáo dạy tóan Phạm Việt Hưng áp dụng vô vũ trụ tùm lum hết trơn với 1 cái dụng ý có Chúa. Ông ta ý muốn nói rằng tóan học có giới hạn, khoa học có giới hạn nên đừng có ý dùng cái đó mà đánh giá Chúa.

Đúng, ông Hưng nói rất đúng không có ai dùng tóan học mà đánh giá cái chuyện không có hay có Chúa cả.

Tóan học có giới hạn của nó. Nó bất tòan theo ý nghĩa tôi nói ở trên chứ không phải theo cái ý nghĩa của định lý Godel, định lý Godel hoàn tòan không thể áp dụng ở đây, và do đó, tóan học cũng như định lý Godel không thể dùng để đưa ra bất kỳ 1 kết luật nào về Chúa cả.

Nó chỉ có ý nghĩa trong 1 HỆ mà thôi.

Thậm chí trong vật lý, tóan học cũng có giới hạn của nó. Người ta chỉ dùng nó như 1 công cụ để mô tả thế giới vật lý và dự đóan. Các nhà vật lý chưa 1 ai nói là dùng logic hình thức để xây dựng định luật vật lý cả. Định luật vạn vật hấp dẫn được xây bằng cách nào ? Nó được xây bằng THỰC NGHIÊM, và cái biểu thức mà mình học hồi lớp 10 là cái ngôn ngữ tóan học dùng để diễn tả cái kết quả thực nghiệm đó.

Cho nên nói cái định lý Godel có ý nghĩa “triết học” ghê gớm chấn động càn khôn, thiệt sự là nói PHÉT. Nó vĩ đại chăng ? đúng nó vĩ đại, vì nó giúp chúng ta hiểu rõ giới hạn của hệ hình thức, là 1 công cụ của chúng ta để tìm hiểu thế giới này. Và điều đó cũng vĩ đại lắm rồi, không nên từ đó mà suy luôn qua tùm lum thứ khác thì thiệt là kỳ cục.

Big Bang

Cơ duyên
Thuyết Big Bang giờ đây không chỉ được đám học trò ngành vật lý nói tới, mà nhờ vào truyền thông, bà con lắm kẻ bàn như ở cái link của Mkay Khôi
Ta thử tìm hiểu nó 1 chút cho vui. Nó có như bạn Khôi nói trong cái clip của bạn ấy là tin vào Big Bang là tin vô điều kiện không cần chứng minh ? Thuyết tương đối bắt buộc phải tin vào “siêu nhiên” ? Rồi điểm “kỳ dị” là cái gì ? Dĩ nhiên mình cũng hổng nên nói tới bạn đó làm chi, vì nó không có đáng gì. Chỉ là cái dịp để chúng ta xem xét 1 vấn đề lý thú hơn thôi, vấn đề Big Bang. Vì admin của trang có đề nghị trong 2 trang A4, nên tôi cố hết sức để đơn giản hóa vấn đề.

Mâu thuẫn thúc đẩy sự thay đổi.

Nếu các bạn còn nhớ phép biến đổi Galileo trong vật lý lớp 10
v’ = v + v0 Trong đó v0 là vận tốc của hệ qui chiếu. v là vận tốc của vật trong hệ, v’ là vận tốc của vật. 
Nôm na, là khi chúng ta ngồi trên xe đò đang chạy chúng ta thấy 1 người đi bộ trên xe đi với vận tốc bình thường. Còn nếu chúng ta ở mặt đất mà quan sát thì ta sẽ thấy người đó chạy vụt qua ta, vì vận tốc của người đó đã cộng với vận tốc của chiếc xe. Chuyện này bình thường trong vật lý mãi đến khi người ta phát hiện ra sóng điện từ. Và quan trọng hơn sóng điện từ chính là ánh sáng, các hạt photon, và vận tốc của nó được tính bằng phương trình Maxwell. Và khi tính ra thì lạ thay cái vận tốc đó nó không phụ thuộc vào vận tốc hệ qui chiếu. Nghĩa là khi tôi đứng tại chổ tôi bật 1 cái đèn pin thì cái vận tốc ánh sáng phát ra từ cái đèn là C. Và khi tôi ở trên tàu vũ trụ tôi bật đèn, thì đối với người quan sát từ mặt đất ánh sáng đó cũng có vận tốc C. Điều này hòan tòan mâu thuẫn với phép biến đổi Galileo. Nhưng cả hai ông đều đúng vì chúng đều đã được kiểm tra bằng thực nghiệm. Như vậy phải còn 1 chân lý khác lớn hơn bao trùm 2 cái đó.

Thuyết tương đối

1905 Einstein cho ra đời thuyết tương đối hẹp để giải thích các mâu thuẫn ở trên. Hệ quả của nó là làm thay đổi hòan tòan quan điểm cũ về không gian, thời gian. Không gian, thời gian giờ đây là các đại lượng tương đối, nghĩa là có thể “co giãn”.
Mất 10 năm để Einstein nâng tương đối hẹp thành tương đối rộng. Trong thuyết tương đối rộng Einstein đã tổng quát hóa định luật hấp dẫn Newton, sức hút giữa 2 khối lượng. Thì từ thuyết tương đối rộng ta biết thực ra lực đó là lực “giả” (pseudo force). Thực ra khối lượng đã uốn cong không thời gian xung quanh nó. Giống như chúng ta đặt 1 trái banh nặng trên tấm đệm, thì nó uốn cong tấm đệm đi. Đó là mình nói chuyện kiểu dùng ngôn ngữ của mình. Mấy ông vật lý thì khác, mấy ổng cố diễn tả những điều đó dưới dạng tóan học, Einstein cũng thế, ổng diễn tả những điều đó dưới dạng tóan học, được gọi tên là phương trình trường Einstein. Trong đó nó diễn tả mối quan hệ giữa vật chất, năng lượng và không thời gian. Tức là đại khái giúp cho mình biết là khối lượng, năng lượng nó làm không thời gian cong đi như thế nào.

Giờ chúng ta qua Big Bang.

Chúng ta đã nói về phương trình trường của Einstein. Khi khảo sát nó thì Einstein nhận thấy một hệ quả là vũ trụ không thể ổn định được mà nó phải giản nở hay co lại. Trong khi chúng ta thấy rõ ràng nó vẫn thường hằng ! Einstein đã thêm 1 hằng số vào để bảo đảm điều đó, sau đó ông thừa nhận đó là cái ngu nhất của ổng.
Sau đó có 1 một linh mục rất nổi tiếng tên là ông Lemaitre. Nổi tiếng hổng phải tại vì chữa bệnh tà hay cái gì hết trơn mà vì ổng là 1 nhà vật lý. Ổng cũng khảo sát phương trình Einstein và cũng đề nghị mô hình đó. Và nếu như nó nở ra, thì hồi xưa nó phải bé, và cứ thế phải có điểm bắt đầu. Bởi như vậy nên khi Lemaitre đưa ra cái thuyết Vũ Trụ Giản Nở chưa ai hoan hô thì có ông giáo hoàng, lúc đó là ông Pius, ổng hoan hô nhiệt liệt là bởi cái “điểm bắt đầu” đó giống .. kinh thánh nói quá. Lâu lâu có 1 lý thuyết vật lý mà lại ăn rơ vô cái kinh thánh thì thôi sướng quá cỡ, đức giáo hoàng bèn hô hào ủng hộ.
(Bác Phạm Việt Hưng và bạn Khôi nếu có mặt vào thời bấy giờ chắc tổ chức hội thảo, hay đêm đốt nến hát đồng ca đặng hiệp thông với ông Lemaitre hổng chừng)
Thế nhưng Lemaitre là một linh mục, đồng thời cũng là 1 nhà vật lý, lại là một nhà vật lý có tài. Nói kiểu mình bây giờ là có tâm, có tầm, có đi tắm. Ổng biết rất rõ rằng khoa học và tôn giáo là 2 cái khác nhau. Một lý thuyết khoa học thì phải có thể đúng, sai và phải để cộng đồng khoa học họ kiểm tra, chớ hổng ăn nhằm gì tới kinh thánh cả. Bởi vậy, đức cha Lemaitre trình bày cùng đức thánh cha rằng nếu kết nối một học thuyết khoa học với thần học cụ thể là kinh thánh, thì giả sử học thuyết này bị kiểm tra là sai thì liệu khi đó nhà thờ dám chịu là kinh thánh cũng sai chăng ? Từ đó trở đi đức giáo hòang Pius không còn đề cập tới chuyện đó nữa.

Chứng cứ

Hai năm sau đó, một nhà thiên văn học tên là ông Hubble quan sát thấy một hiện tượng mà đưa thành định luật là định luật Hubble. Hiện tượng thế này, khi quan sát các thiên hà thì các thiên hà hễ càng xa ta thì quang phổ của nó càng có xu hướng dịch về bước sóng đỏ.
Nếu các bạn nhớ vật lý lớp 12, thì biết một nguồn sóng mà nếu nó chạy về phía chúng ta thì bước sóng sẽ nhỏ lại. Còn nếu nó chạy xa ta thì bước sóng sẽ lớn lên. Giống như mình đi thuyền mình thấy sóng ở mủi thuyền thì nó dồn lại, còn ở sau thuyền thì nó giản ra. Ánh sáng mà mình thấy được nó từ màu đỏ tới màu tím, màu đỏ là màu có bước sóng lớn. Nên khi nếu quang phổ mà dịch chuyển như vậy thì tức là bước sóng nó giãn ra, chứng tỏ thiên hà đó đang chạy ra xa mình.
Điều này là một chứng cứ cho thấy quan điểm của Lemaitre là có cơ sở.
Tui còn nhớ lúc ở trường, thì tụi học trò nó thắc mắc, là giả sử chúng ta có một vụ nổ thiệt, nổ kiểu nổ lựu đạn, thì chúng ta cũng vẫn có thể nhìn thấy cái thiên hà ở xa ta thì càng chạy xa ta vậy ? Khi đó, ông thầy vật lý, ổng nói
“Nếu ngày xưa có 1 vụ nổ kiểu nổ lựu đạn, thì đúng là mình có thể quan sát thấy hiện tượng Hubble nhưng nó chỉ đúng khi mầy đang đứng tại tâm của vụ nổ. Nhưng xác suất trái đất này mà ở tại tâm thì rất thấp. Còn ở đây mình phải đặt mình ở 1 vị trí bất kỳ, mà quan sát thấy hiện tượng đó, thì lời giải thích từ phương trình Einstein hợp lý hơn. TỨc là tự không gian nó giãn nở. Giống như chúng ta rắc mè lên một cục bột, rồi bỏ bột nổi cho nó nở. Khi đó các hột mè sẽ chạy xa ra, và bất kỳ hột mè nào cũng quan sát thấy hiện tượng như thể nó đang ở tâm của vụ nổ.” 
Nhưng như vậy cũng chưa đủ để khả tín lắm. Lúc bấy giờ, có ông vật lý gia là ông Gamov người Nga, ổng mới phát triển tiếp cái lý thuyết vũ trụ giãn nở và ổng ứng dụng vật lý hột nhưn vô, ổng đưa đến 2 dự đóan quan trọng.
  1. Nếu vũ trụ giãn nở thì hồi xưa mật độ phải cao rồi từ từ giảm dần, qua đó các nguyên tố hóa học được hình thành. Ổng tính ra tỉ lệ của Hydrogen và Helium là khỏang 2/3.
  2. Cũng như vậy các hạt photon hồi xưa được hình thành khi mật độ vũ trụ đủ thấp, các hạt photon đó vẫn còn trong vũ trụ này, và bước sóng của các photon đó sẽ giãn ra giống như hiện tượng dịch chuyển đỏ. Các photons này ở đầy vũ trụ được gọi là bức xạ nền Cosmic Background Radiation (CBR).
Và vui thay. Các dự đóan này đã được xác nhận. Nobel 1978 đã hân hạnh trao cho Wilson và Penzias về việc phát hiện CBR.
Chúng ta biết rằng vận tốc ánh sáng không phải là vô hạn nên nếu sự kiện càng xa mình thì ánh sáng sẽ tốn thời gian càng lâu để tới mình. Cho nên khi chúng ta nhìn một vật càng xa thì thực chất chúng ta đã nhìn vào quá khứ. Do đó, khi chúng ta nhìn mãi vào bầu trời thẳm xa chúng ta sẽ thấy trọn vẹn vũ trụ xưa tới giờ, TUY NHIÊN, khi xưa mật độ vật chất trong vũ trụ rất là lớn, khi chúng ta nhìn vào quá khứ đến thời điểm mà nhiệt độ đủ cao vật chất ở trạng thái Plasma thì nó hút mất hạt photon, nên đến đó thì chúng ta không thể nhìn xa hơn được nữa. Giống như ánh sáng chiếu tới bức tường, bức tường đó nó hấp thụ photon, và chúng ta thấy bức tường, chớ không thấy cái gì sau bức tường đó.
Cũng như vậy, nếu chúng ta dòm hòai thì sẽ tới bức tường plasma đó chính là bức xạ nền, nơi những photon đầu tiên của vũ trụ được phóng ra.
Năm 2001 NASA phóng vệ tinh WMAP và nó đã chụp được bức xạ nền đó như tấm hình nổi tiếng này

Các bạn có thể xem tiếp các thông tin thú vị mà WMAP thu được ở trang NASA. (https://apod.nasa.gov) Hình tôi cũng lấy từ đó.

Hai cái Big Bang

Nói đến đây tôi xin tóm lại các vấn đề chúng ta đã đi qua trước khi chúng ta đến một cái khó hơn là điểm kỳ dị.
Big Bang là 1 học thuyết “tiến hóa” của vũ trụ, nó mô tả giai đọan đầu của vũ trụ. Tức là vũ trụ chúng ta đang nhìn thấy đây nó tiến hóa thay đổi. Vũ trụ thuở xưa có mật độ rất cao khi vũ trụ giãn nở nhiệt độ hạ dần và thông qua đó các trường lực được hình thành, vật chất được hình thành. Trước tiên là các hạt cơ bản (giống như các sinh vật đơn bào vậy, nếu bạn muốn so với tiến hóa) rồi nguyên tố nhẹ nhất được hình thành, Hydrogen, rồi Helium. …
Thuyết này là hệ quả trực tiếp của thuyết tương đối. Và các dự đóan của thuyết này đã được kiểm nghiệm như đã trình bày ở trên cụ thể là bức tường plasma. Những điều đó ta tạm gọi là “Big Bang thứ 2”, tức là tồn tại 1 quá khứ “nóng bỏng” và giản nở của vũ trụ. Thế còn cái thứ nhứt, hay cái điểm “ban đầu” ? mà có khi người ta gọi là “điểm kỳ dị” ?
Thì cũng giống như bên sinh học, chúng ta có thể phần nào hiểu được nguồn gốc các lòai nhưng chúng ta chưa biết về nguồn gốc sự sống, ở đây cũng na ná như thế, ngày nay vật lý chưa đủ sức để trả lời câu hỏi về “điểm ban đầu” hay “điểm kỳ dị” đó và rất có thể là ĐIỂM KỲ DỊ ĐÓ KHÔNG TỒN TẠI TRONG MÔ HÌNH TIẾN HÓA CỦA VŨ TRỤ. (Tôi sẽ giải thích trong phần kế). Nên khi nói tới Big Bang ta cần nắm rõ điều này, tức là trong đó có những cái ta chưa rõ. Khi nói rằng các nhà khoa học đồng thuận về Big Bang thì là nói về cái Big Bang số 2, chứ cái số 1 thì có rất nhiều giả thuyết mà chưa có cái gì là chắc ăn cả.

Điểm kỳ dị trong Big Bang

Đầu tiên ta nên biết điểm kỳ dị là gì ? Đó một “điểm” trên hàm số mà có những đặc điểm “kỳ cục” chẳng hạn như không có đạo hàm, không biểu diễn được trên hệ tọa độ …Ví dụ xét hàm y = 1/x Ứng với 1 điểm x ta có 1 điểm y, như nếu x = 0 ?? y sẽ là vô cùng. Trong toán học ta gọi đó là điểm kỳ dị.
Vật lý lại dùng tóan học làm công cụ và diễn tả các định luật vật lý bằng các hàm số tóan học. Và nếu khi khảo sát các hàm đó ta thấy điểm kỳ dị thì sao ?
Tôi thí dụ định luật Ohm U = RI Hiệu điện thế bằng tích của điện trở và cường độ dòng. Nếu tôi viết lại I = U/R. Điểm kỳ dị xuất hiện khi R = 0. Nếu lúc đó cường độ dòng lên vô cùng ? A! Con số vô cùng (số tám té nằm dài) là 1 con số của tóan học trong vật lý không có con số đó. Như vậy nó nói lên 1 điều rằng định luật Ohm là không đầy đủ. Và thực tế, hiện nay chúng ta biết rõ khi điện trở bằng zero thì hiện tượng siêu dẫn xuất hiện lúc đó ta dùng 1 phương trình khác để mô tả vật lý, phương trình London. Điều này không liên hệ tới Big Bang nhưng tôi nói ra để các bạn thấy cái cách làm việc của Vật lý và đừng lẫn lộn lung tung giữa tóan học và khoa học theo kiểu của bác Phạm Việt Hưng khi nói về định lý Godel. 
Trở lại. Như vậy nếu khi ta khảo sát 1 hàm số mô tả hệ vật lý nếu xuất hiện điểm kỳ dị, thì linh tính (hay trực giác gì đó hihihi) cho ta thấy định luật đó là CHƯA ĐẦY ĐỦ. Tôi quay lại câu chuyện Big Bang. Có 1 nhà vật lý bị xuội mà học giỏi vô cùng, tên ông là Stephen Hawkings. Ông này ổng khảo sát phương trình của thuyết tương đối (khảo sát bằng tóan) hướng về quá khứ của Big Bang thì hàm số dẫn đến 1 điểm kỳ dị. Cái định lý này gọi là định lý Hawkings. Chính vì cái định lý này mà một số người hễ nói tới Big Bang là nói tới điểm kỳ dị, và dĩ nhiên là “tưởng tượng” bởi vì làm sao mà biết. Tôi nhắc lại điểm kỳ dị là khái niệm của tóan. Năm 1988 Stephen Hawkings cho in cuốn sách nổi tiếng A Brief History of Time, ông nói không có điểm kỳ dị trong mô hình Big Bang !!
Hawking later revised his position in A Brief History of Time (1988) where he stated that "there was in fact no singularity at the beginning of the universe" (p50). This revision followed from quantum mechanics, in which general relativity must break down at times less than the Planck time.  Trích từ https://en.wikipedia.org/wiki/Penrose%E2%80%93Hawking_singularity_theorems 
Dịch: Hawkings sau đó đã xem xét lại và trong cuốn Lịch Sử Ngắn Ngủi của Thời gian ông viết “Thiệt ra không có điểm kỳ dị ở lúc khởi đầu của vũ trụ”. Việc này xuất phát từ cơ lượng tử trong đó cơ tương đối sẽ không còn đúng nữa khi thời gian nhỏ hơn thời gian Plank.  
Như vậy việc dự đóan về điểm kỳ dị của định lý Hawkings là không trúng, vì nó chỉ xét cơ tương đối mà bỏ quên cơ lượng tử. HIện nay chúng ta có 2 hệ vật lý TƯơng ĐỐi và Lượng Tử, cái cho hệ vĩ mô, cái cho hệ vi mô. Nhưng ở những thời khắc đó cái vĩ mô chui vô cái vi mô, mình có thể tưởng tượng là khối lượng của hằng bao nhiêu thiên hà này chui vô 1 hạt nhân nguyên tử ! Khi đó muốn khảo sát nó phải thống nhất được 2 hệ vật lý. Công việc đó các nhà vật lý có khi gọi là bằng cái nick name là ToE. Cái mà bác HƯng cho là thiếu trực giác. THực ra nó xuất phát từ trực giác. Trực giác cho ta thấy thuyết tương đối không đầy đủ, cho ta thấy có 1 chân lý bao trùm lên trên nữa, và ta phải đi tìm. Tóm lại, phương trình Einstein chứa điểm kỳ dị (định lý Hawkings) cũng như tôi đưa ví dụ định luật Ohm cũng chứa điểm kỳ dị. Nhưng điểm đó là điểm của tóan học, trong vật lý thì chưa chắc. Thí dụ ở định luật Ohm, điểm kỳ dị đã được giải quyết bằng phương trình London. Còn ở phương trình Einstein thì chưa giải quyết được.

Các giả thuyết hiện tại

Chưa có câu trả lời như có giả thuyết chứ ? ĐÚng, có và có rất nhiều. Các bạn có thể lên mạng và search ra rất nhiều, tui chỉ xin nói về 1 lý thuyết đang phổ biến gần đây nhứt, thuyết đa vũ trụ.
,Giả thuyết đa vũ trụ (multiverse) (Xin phân biệt với cái gọi là đa thế giới many-world của cơ lượng tử). Mô hình này là hệ quả của giả thuyết vũ trụ bùng nổ (Universe inflation) . Dựa trên các bằng chứng quan sát thì vũ trụ thưở ban đầu đã giản nở rất nhanh. Do nó giản nở quá nhanh như vậy, các vùng trong vũ trụ bị tách xa nhau ra và thành những vùng phát triển riêng biệt mỗi vùng có 1 hằng số vật lý khác nhau. Và mỗi vùng đó là 1 vũ trụ. Giống như mình nấu nước sôi thì thì thành những cái bọt, mỗi cái bọt tự giản nở riêng. Như vậy có rất nhiều vũ trụ “tạo thành”, mà mỗi cái vũ trụ đều có hằng số vật lý khác nhau, hơi giống như là đột biến trong sinh học vậy.
Trong đó, cái vũ trụ của mình nó có cái điều kiện hơi phù hợp (hơi phù hợp chứ không phải perfect đâu nghe) thế là có sao, có trăng, thế rồi có một hành tinh nào đó tên là trái đất ra đời, thế rồi trái đất này là của chúng mình, vàng trắng đen ai cũng làm quen. Nếu lý thuyết này mà đúng, thì vũ trụ của chúng ta là 1 cái bọt bé bỏng đang giản nở trong số cả đống cái bọt đang nở và đang được sinh ra ở ngoài kia. Thế còn nhờ đâu mà 1 bọt vũ trụ là sinh ra ? năng lượng nào ? nhờ vào Quantum fluctuation. Cái này thì lại bắt qua lượng tử rồi, nên ta sẽ dừng lại ở đây thôi.
Các bạn coi tấm hình này tôi lấy ở đây (http://cdn.phys.org/newman/gfx/news...)

Trong đó các bạn để ý ngay chổ bắt đầu người ta viết là “quantum fluctuation” (dao động lượng tử) chứ không phải là 1 điểm kỳ dị gì hết (dĩ nhiên đây là 1 giả thuyết, nhưng nó cho thấy chúng ta có thể giải thích được hiện tượng này, khi chúng ta đưa được cơ lượng tử vào cơ tương đối).
Trên là một trong rất nhiều các giả thuyết về sự khởi đầu của vũ trụ. Sự bắt đầu của không thời gian trong vũ trụ của chúng ta chỉ là sự bắt đầu của không-thời gian cổ điển chứ không phải là có cái gì đó nó sinh ra cái thời gian.

Kết luận

Tên gọi Big Bang thiệt ra không chính xác vì không phải là 1 vụ nổ với nghĩa thông thường. Nó ra đời vì người ta chế nhạo lý thuyết vũ trụ giản nở của Lemaitre, nhưng xài riết quen rồi vẫn dùng. Lẻ ra chọn “thuyết tiến hóa” vũ trụ (!) vì lòng ái mộ Darwin (hihi), đùa thôi, chứ nghiêm chỉnh chứ người ta đã coi nó như vậy chẳng hạn như bài báo này http://www.universetoday.com/54756/what-is-the-big-bang-theory/ Tựa đề là “Big Bang theory: evolution of universe” Thuyết Big Bang: sự tiến hóa của vũ trụ.
Thuyết này giải thích được quá trình hình thành vật chất trong vũ trụ, giải thích được định luật Hubble … Dĩ nhiên trong đó còn nhiều chổ mù mờ, chẳng hạn như tại sao ta không thấy phản vật chất ? Chúng ta có thể giải thích được rất xa cho đến khi mà mật độ vật chất lên rất cao, khi mà cơ tương đối gặp phải cơ lượng tử thì chúng ta bí lù, vì chúng ta chưa thống nhất được 2 hệ vật lý. Cái điểm đó, có phải là điểm “đầu tiên” không ? có thể là đầu tiên, nhưng đó chỉ là đầu tiên trong ý nghĩa của không thời gian cổ điển, tức là cái mà chúng ta đang cảm nhận đây. Chứ còn không có nghĩa là “đầu tiên” với ý nghĩa tạo dựng như trong thần học.
Và đó là khoa học. Việc vũ trụ giãn nở là hệ quả trực tiếp từ những biến đổi tóan học của cơ tương đối. Mà cơ tương đối đã được kiểm nghiệm khá kỹ, do đó ta tin việc vũ trụ giãn nở là có cơ sở. Sau đó, chúng ta tiên đóan các sự kiện và chúng ta đã thực sự kiểm tra được các tiên đóan đó. Các dữ kiện hiện nay ta có phù hợp rất nhiều với lý thuyết này. Cho nên đến hôm nay, cơ bản nó cũng như thuyết tiến hóa trong sinh học, được tuyệt đại các nhà khoa học đồng thuận trong việc giải thích sự tiến hóa của vũ trụ.
Tuy nhiên ta cần biết là không phải nó không có vấn đề, có nhiều nữa là đằng khác. Một trong những vấn đề hết sức nan giải là cái “điểm đầu tiên” trong tấm hình tôi để ở trên. Chúng ta chỉ có thể có được lời giải đầy đủ khi thống nhất được 2 hệ vật lý.
Và điều quan trọng nhất là chẳng có gì siêu nhiên cả. Nó ra đời hòan toàn bằng tư duy logic, bằng làm tóan, bằng thực nghiệm … tòan là các phương pháp mà học sinh nào cũng có thể học được. Muốn hiểu nó, hay muốn phản biện nó việc duy nhất có thể làm là … đi học vât lý. Lời nhắc nhở của một trong những tác giả lý thuyết này, linh mục Lemaitre tới giờ vẫn còn nguyên giá trị, đó là khoa học có những phương pháp khác với thần học, và một lý thuyết khoa học phải được kiểm nghiệm và phản biện bởi cộng đồng khoa học bằng những phương pháp khoa học.

Hãy cho anh khóc bằng mắt em

Thanh Tâm Tuyền

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim, em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa thép vào
Môi son họng súng
Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào
Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi
Hãy cho anh ngủ bằng trán em
Ðau dấu đạn
Ðêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng
Hãy cho anh chết bằng da em
Trong giây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest!

Trung Quốc thư pháp giản sử (sưu tầm ở đâu quên mất tiêu)

中國書法簡史 – Trung Quốc thư pháp giản sử

Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa đã có một lịch sử phát triển lâu đời. Về mặt thư thể, để dễ dàng thuận tiện cho việc sử dụng, chữ Hán đã chuyển dần từ phức tạp sang đơn giản, nhưng trên giác độ kỹ xảo thư pháp, thì sự biến hoá của nó lại ngày một nhiều, phong cách cũng ngày càng đa dạng, phức tạp.

Từ cổ xưa đến ngày nay, về thư thể, có thể nói cơ bản có năm loại: triện, lệ, khải (chân), hành, thảo. Những thể chữ này, tuỳ theo sự phát triển của lịch sử và đời sống xã hội đã không ngừng diễn biến thay đổi. Theo những ghi chép trong sách xưa, thì trước khi xuất hiện chữ triện, đã có một loại văn tự cổ từ thời trước đó, tương truyền do Thương Hiệt sáng tạo ra, là khởi nguyên chính thức của văn tự Trung Quốc, nhưng đây chỉ là truyền thuyết, còn chưa có khảo cứu được hư thực thế nào. Chung đỉnh văn thời Hạ, truyền là khắc trên cửu đỉnh do Hạ Vũ đúc khi trị thuỷ cũng chưa thực sự tin cậy. Thời Ân, Thương người ta dùng mai rùa, xương thú để xem bói, trên đó có khắc các lời bói (bốc từ), là những chữ tượng hình, gọi là giáp cốt văn. Đến thời Chu Tuyên Vương, một vị quan thái sử tên Trứu đem những cổ văn từ trước, chỉnh lý thành một thể chữ mới, gọi là Trứu văn, Trứu triện, đại triện. Đời Chu còn có một loại chữ gọi là thạch cổ văn (chữ trên trống đá), là loại chữ mà quý tộc chư hầu khi đi săn bắn ở Kỳ Sơn cho ghi lại sự việc, dùng khắc vào đá, lấy từ chữ Trứu triện và có chỉnh lý đôi chút, cũng thuộc vào loại chữ đại triện. Những chữ đại triện đến nay còn thấy được, có thể nói tiêu biểu nhất có: Mao công đỉnh, Tụng đỉnh, …chữ mang phong cách tông Chu, thuần hậu, ngay ngắn, nét chữ tròn đều, trầm, nặng. Cùng thời kỳ này, vùng Kinh Sở còn có một kiểu viết chữ rộng, thưa hơn, mà tiêu biểu là Tản thị bàn, có phong cách rất hùng vĩ. Những loại chữ khắc trên chuông, đỉnh, và các đồ thờ cúng kim loại khác, còn được gọi là kim văn.

Đời Tần, để thống nhất văn tự của sáu nước, thừa tướng Lý Tư đã tiến hành lược bỏ những nét phức tạp của chữ đại triện đi, giữ lại những điểm hợp lý, sáng tạo ra thể chữ tiểu triện. Loại chữ này có nét chữ nhỏ, dài hơn, hình chữ cũng tề chỉnh, cân đối. Các chiếu bản thời Tần hầu hết đều dùng chữ tiểu triện. Thời gian này có Trình Mạc- một viên ngục lại ở huyện, vì mắc tội với Tần Thuỷ Hoàng, bị giam giữ ở ngục Vân Dương, đã để tâm suy xét trong suốt mười năm trời, thêm bớt những nét vuông tròn cho chữ đại tiểu triện, tạo ra ba ngàn chữ lệ thư, Tần Thuỷ Hoàng liền dùng ông ta vào chức ngự sử. Vì loại chữ này thuận tiện cho những người tù, nô lệ, quan ngục sử dụng nên được gọi là lệ thư (chữ lệ trong từ nô lệ). Đó là cách nói phổ biến xưa nay về việc ra đời của chữ lệ. Song cũng có người cho rằng chữ lệ khởi nguyên từ đời Chu, có người lại cho rằng chữ lệ thư là loại chữ dành riêng cho những người nô lệ, hạ dân, chỉ vì thời Tần chưa sử dụng một cách phổ biến, đến thời Hán mới lưu hành nên gọi là Hán lệ.

Chữ Lệ được sử dụng phổ biến thời Hán, về tự hình tự thể cũng có rất nhiều loại. Nét đặc sắc của nó là: tự hình mở rộng sang hai bên, nét chữ cứng cỏi, gấp vuông, phóng khoáng mà tú dật, nét bút lên xuống, nặng nhẹ rõ ràng. Chữ lệ đời Hán hiện còn phần lớn là khắc ở bia mộ, kệ đá, cột hoa biểu đá, cửa khuyết đá …Những chữ đề tự khắc đá ở Võ Lương từ và Quách Cự mộ từ ở núi Hiếu Đường đều là chữ lệ, khí vận cao nhã, cổ kính. Bia khắc lệ thư đời Hán, nổi tiếng nhất có Lễ khí bi: nét bút khoẻ khoắn, nhỏ mà cứng cỏi, khoảng cách các nét rộng; Sử Thần bi, Ất Anh bi: nét bút khoan thai, tú nhã, ngay ngắn mà không cứng nhắc; Trương Thiên biểu tụng: vuông khoẻ trầm nặng, bút lực hùng hậu; Tào Toàn bi : đẹp đẽ, nhiều tư thái.

Đời Hán, ngoài thông dụng chữ lệ, còn có một loại chữ gọi là chữ bát phân. Một trong những cách giải thích sở dĩ gọi là chữ bát phân là vì thể chữ này “cắt chữ lệ của Trình Mạc đi tám phần, giữ lại hai phần, cắt chữ triện của Lý Tư đi hai phần, giữ lại tám phần”, trong chữ bát phân thể triện nhiều hơn thể lệ. Một cách nói khác lại cho rằng sở dĩ gọi là “bát phân”, là bắt nguồn từ tự hình thể chữ này, phép viết thường phân bố hai phần phải trái hướng lưng vào trong (như hình chữ bát). Có người nói đây là thể chữ thời Tây Hán, lại có người nói thể chữ này do Sái Ung sáng tạo ra. Chữ bát phân ngày nay còn thấy đều là chữ đời Hán, không thấy có ở thời Tần. Bia chữ triện đời Hán cũng rất ít, chỉ có “Trung nhạc Thiếu Thất thần đạo thạch khuyết minh” và “Khai Mẫu miếu thạch khuyết minh” là nổi tiếng nhất.

Đời Hán còn xuất hiện khải thư, hành thư và thảo thư. Trước đời Đường, khải thư được gọi là chân thư, theo ghi chép lại, đây là thể chữ do Vương Thứ Trọng sáng tạo ra. Cuối đời Hán, thì Lưu Đức Thăng sáng tạo ra hành thư. Nhưng còn ai sáng tạo ra lối thảo thư thì có nhiều cách nói chưa thống nhất. Thời Đông Hán, thông dụng lối chương thảo, loại chữ thảo này các chữ độc lập, không liền nối với nhau (liên miên), còn mang nét cứng rời của chữ lệ và chữ bát phân. Có người nói thời Hán Chương Đế, Đỗ Bá Độ giỏi thảo thư, Chương Đế rất yêu thích, hạ chiếu trong các chiếu lệnh, tấu chương đều dùng lối thảo, nên bấy giờ người ta gọi là chương thảo. Trương Chi thời Đông Hán rất giỏi chương thảo, áo quần vải vóc trong nhà đều viết kín chữ rồi lại đem nhuộm lại, ra bên ao học viết chữ, nước ao cũng đen như mực … đều trở thành những giai thoại trong lịch sử thư pháp.

Thời Nguỵ Tấn là thời kỳ phát triển thành thục của nghệ thuật thư pháp Trung Quốc, mà thể hành thư là phát triển nhất. Hành thư chia làm hai thể: một thể là chân hành, lối viết rõ ràng, quy củ, gần với khải thư; một thể là hành thảo, lối viết khá phóng túng, gần với thảo thư. Chung Diêu ( ) sống ở thời Nguỵ – Tam Quốc học bút ý hành thảo của Lưu Đức Thăng, và lệ thư, bát phân thư… tự lập thành một cách riêng, đồng thời cũng là tị tổ của chân thư, cùng với Trương Chi được người đời ca ngợi so sánh, gọi gộp là “Chung Trương”, nhưng hiện nay tiếc rằng không còn một chữ nào là chân tích của họ Chung cả. Thời Tấn, Vệ Quán ( ) và con trai là Vệ Hằng ( ) cũng đều là những nhà thư pháp nổi tiếng. Vệ Quán học lối chữ của Trương Chi, giỏi lối chữ thảo, thiên tư rất thần kỳ đẹp đẽ. Vệ Hằng giỏi viết chương thảo, lệ thư và còn học cả viết chữ phi bạch (một lối chữ viết với bút mực khô sơ, trong nét chữ thường có những vệt sơ trắng), tạo ra lối chữ tán lệ thư. Ông còn viết tác phẩm “Tứ thể thư thế” luận bút thế của bốn thể chữ: chữ bát phân, chữ triện, chữ lệ và chữ thảo. Em gái họ của Vệ Hằng là Vệ Thước ( ), người đời vẫn tôn xưng là Vệ Phu nhân, cũng rất giỏi thư pháp, là thầy dạy của Vương Hi Chi ( ). Đến Vương Hi Chi và con trai là Vương Hiến Chi ( ), mà người đời gọi chung là “Nhị Vương” thì thành tựu thư pháp càng trở nên tột bực, đến nay vẫn còn là mẫu mực cho những người học thư pháp. “Lan Đình tự” của Vương Hi Chi được xưng tụng là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”, ngoài ra chữ chân, chữ thảo, chữ lệ, chữ phi bạch của ông loại nào cũng rất tinh xảo, người xưa từng ca ngợi chữ của ông: “Bút tích tù nhuận, độc thiện nhất gia chi mỹ, thiên tư tự nhiên, phong thần cái đại” – Bút mực đậm đà, tự thành một phái với vẻ đẹp riêng, thiên tư tự nhiên, phong cách, thần thái bao trùm một thời. (“Thư Đoạn” của Trương Hoài Cẩn ). Vương Hiến Chi lúc nhỏ học thư pháp của cha, sau lại tự mình sáng tạo ra một lối riêng, giỏi cả năm thể: lệ, hành, thảo, chương thảo, phi bạch, phong cách của ông được người xưa ca ngợi là: “Hùng võ thần túng, linh tư tú xuất”- Hùng vĩ, mạnh mẽ, thần thái phóng túng, nét bút sinh động, đẹp đẽ tràn đầy. Ông sáng tạo ra thể kim thảo đời Tấn, còn gọi là phá thảo, liên miên thảo, tự hình tương đối giản ước, nhưng chữ viết lưu loát, liền nối với nhau, khó mà biện nhận được. Sau này, Mễ Phất ( ) – thư pháp gia đời Tống cho rằng: “Sở vị nhất bút thư, thiên hạ Tử Kính đệ nhất thiếp dã” – Nói đến chữ một nét bút (tức kim thảo) thì thiếp của Tử Kính (tên tự Vương Hiến Chi) là đứng đầu thiên hạ (theo “Thư Sử”).

Thời kỳ Nam Bắc triều, thư pháp Trung Hoa cũng phân ra hai phái nam, bắc. Nam triều thịnh hành giản độc (các thẻ tre hoặc gỗ để viết các văn thư), phong cách khoan thai nhàn dật, Bắc triều thì chủ yếu là bia khắc, phong cách nghiêm cẩn, trầm lắng, dầy dặn. Nam triều có nhà sư Trí Vĩnh ( ) là cháu bảy đời của Vương Hi Chi, đặc biệt nổi tiếng về thảo thư, ông học theo lối chữ của Vương Hi Chi, viết lại “Chân thảo Thiên tự văn” hơn 800 bản, lưu hành khắp các chùa ở vùng Triết đông (phía đông Triết Giang), được người sau vô cùng trọng thị. Ông viết chữ trên gác chùa Vĩnh Hân, những cây bút viết cùn, hỏng chất đầy năm chiếc thùng gỗ lớn, mỗi thùng có thể chứa được hơn một thạch (một thạch tương đương 100 lít), cũng là một giai thoại trong thư sử.

Bia khắc Bắc triều, chữ lệ, chữ khải đều có, mạnh khoẻ, có lực, cùng với bia thời Đường trở thành hai dòng bia khải thư lớn. Bia Bắc triều thì bia Bắc Nguỵ lại là hưng thịnh nhất, do đó gọi là Nguỵ Bi. Người đời Thanh sau này, rất quan tâm nghiên cứu về bia cổ, hầu như đều lấy Nguỵ Bi làm khuôn phép. Thể chữ Nguỵ Bi là loại chữ lấy khải thư làm chính, nhưng dụng bút lại mang hơi hướng ý vị của lối lệ thư. Nguỵ Bi số lượng rất nhiều, nhưng về đại thể có thể phân ra hai loại: loại thứ nhất, đại biểu là “Long môn nhị thập phẩm”, ngoài những bia Pháp sinh, Bắc hải vương, Ưu điền vương, thì các bia còn lại đều dùng phương bút, các nét gập, nét mác, nét phẩy của chữ đều có góc nhọn, tự hình đơn giản, kết cấu chặt chẽ, mạnh cứng vô cùng khoẻ khoắn. Loại thứ hai lấy “Vân Phong sơn tứ thập nhị chủng” của Trịnh Đạo Chiêu ( ) làm đại biểu, đều là nối viết viên bút. Khang Hữu Vi ( ) đời Thanh rất ca ngợi Nguỵ Bi, từng nói: “Nguỵ Bi không có tấm nào không đáng gọi là giai phẩm, tuy như pho tượng của một cô thôn nữ quê mùa, nhưng đầy đặn xinh tươi, trong nét giản dị toát ra tư thái đẹp đẽ, kết cấu từng chữ đều chặt chẽ vô cùng.”, ông còn tổng kết nên mười vẻ đẹp (thập mỹ) của Nguỵ Bi, đó là: “Phách lực hùng cường; Khí tượng hồn mục; Bút pháp khiêu việt; Điểm hoạ tuấn hậu; Ý thái kỳ dật; Tinh thần phi động; Hứng thú hàm túc; Cốt pháp động đạt; Kết cấu thiên thành; Huyết nhục phong mĩ”. Nổi tiếng nhất của Nguỵ Bi, ngoài “Long Môn nhị thập phẩm” và thạch khắc ở núi Vân Phong, còn có “Trương Mãnh Long bi”, “Tung cao Linh miếu bi”, “Cúc Ngạn Vân mộ chí”, “Thạch Môn minh”, “Điếu Tỉ Can văn”, “Lý Trọng Toàn tu Khổng tử miếu bi”, “Giả Tư Bá bi”, “Lý Siêu Bi” …

Đời Tuỳ thống nhất hai thư phái của Nam Bắc triều, mở ra một không khí mới cho thư pháp đời Đường, thành tựu thư pháp trên bia tuy chưa vượt qua được Nguỵ Bi, nhưng cũng có một số bia nổi tiếng, như “Long Tàng tự bi” chẳng hạn, xưa nay vẫn cùng được xếp ngang với “Trương Mãnh Long bi” là những cực phẩm của bi thư. Đầu thời Đường, bia đá được dựng khắp nơi với lối khải thư kết hợp cả phong cách hai phái nam và bắc, đã truyền lại được bút ý Lục triều, tự hình nghiêm túc, trầm, chắc, mang đậm hơi hướng kim thạch, nhưng lại nhiều tư thái, phong vận bay bổng, lưu loát. Thời Sơ Đường nổi tiếng với bốn đại gia thường được nhắc đến là: Âu, Ngu, Chử, Tiết.

Âu, tức Âu Dương Tuân ( ), các thể chữ ông đều giỏi, bút lực mạnh hiểm, kết cấu chặt chẽ kiên cố, bút hoạ trầm nặng, rậm dày, nét sau nét trước liền mạch nhường tiếp lẫn nhau. Ông đặc biệt nổi tiếng với nối chữ tiểu khải, không những bút lực mạnh hiểm, tinh xảo, chỉn chu mà còn mang khí tượng hồn mục thanh cao, giản dị. Con trai Âu Dương Tuân là Âu Dương Thông ( ) cũng rất giỏi thư pháp, hai cha con cùng nổi tiếng như nhau, thường được gọi là “đại tiểu Âu Dương”. Nhưng cách cục của Âu Dương Thông còn nhỏ nhặt, chưa được như cha.

Ngu, tức Ngu Thế Nam ( ) là một khai quốc công thần thời Đường Thái Tông, thư pháp của ông học theo sư Trí Vĩnh, dùng bút và điểm hoạ thì thừa tập phương pháp của Vương Hữu quân (Hi Chi), nét bút trầm hậu, an ổn, rõ ràng, bút lực chắc khoẻ, mà phong vận thì tú dật. Tác phẩm nổi tiếng có “Phu tử miếu đường bi”.

Chử, tức Chử Toại Lương ( ), chữ khải của ông có đặc điểm là dùng nhiều hình thái của lệ thư, phong cách thưa gầy, cứng cỏi điêu luyện mà chỉnh tề, hoa mĩ. Người đời Đường thường ca ngợi chữ của ông là “Tự lý kim sinh, hàng gian ngọc nhuận” – Trong chữ nảy vàng, giữa hàng sinh ngọc. Tác phẩm nổi tiếng có “Chử Hà Nam thánh giáo tự”.

Tiết, tức Tiết Tắc ( ), ông học thư pháp của hai nhà: Ngu, Chử, phong cách phóng túng, đậm đà tú lệ, khải thư càng gần với phong cách Chử Toại Lương.
Kế tiếp sau Âu, Ngu, Chử, Tiết, đến thời Thịnh Đường các thư pháp gia trứ danh lại có Lý, Tôn, Trương, Tố, đều nổi tiếng về hành thư và thảo thư.

Lý, tức Lý Ung ( ), văn chương thư pháp đều lừng danh thiên hạ, quan lại, tăng ni, đạo sĩ khắp nơi muốn dựng bia khắc chữ đều đến cửa nhà ông để nhờ viết, chữ của ông lưu truyền ở đời rất nhiều, phần đa là các thác bản. Ông dụng bút hùng cường, kết tự ở giữa thì dầy chặt, mà bốn mặt thì rộng mở, phong cách khoan thai, hào sảng rất kỳ vỹ, có khí thế mạnh mẽ, nghiêm trang chưa từng có, người đời tôn xưng là “Thư trung tiên thủ”.

Tôn, tức Tôn Quá Đình ( ), tuổi tác dường như lớn hơn cả, ông sống khoảng thời gian dưới triều Võ Tắc Thiên, không tham gia quan chức. Thảo thư của ông học theo Nhị Vương, nhưng chuyên tâm vào dụng bút, phấn chấn, gãy gọn. Ông còn để lại tác phẩm “Thư phả”. Những nhà bình luận thư pháp xưa nay, thông thường đều cho rằng ông thuần học theo thư pháp đời Tấn, trong số những nhà thư pháp đời Đường, ông là nắm được ý tứ của Nhị Vương hơn cả, nhưng sáng tạo mới thì còn chưa nhiều.

Trương, tức Trương Húc ( ), ông giỏi thảo thư, thường tự nói rằng mình được xem họ Công Tôn múa kiếm mà khải phát được bút ý, hạ bút như có thần. Khi ông viết chữ, thường uống rượu cho say khướt, hét to rồi vung bút mà viết. Hoặc lại nhúng cả đầu vào mực mà viết chữ, đến lúc tỉnh lại, tự mình cũng thấy là thần dị. Thảo thư của Trương Húc hào phóng, không câu thúc, như sấm vang chớp giật, quỷ thần biến hoá, bút pháp khó mà suy xét.

Tố, tức nhà sư Hoài Tố ( ), ông sống trong thời gian muộn hơn Trương Húc, tính cách ông giản dị, hào phóng, vì nghèo khó, không có tiền mua giấy viết chữ, ông từng trồng hơn vạn khóm chuối ở vườn nhà, để lấy lá chuối viết chữ. Chữ đại thảo của ông như rồng đi, rắn chạy, mưa sối, gió gào. Những nhà thơ thời ấy đều có thơ tán tụng chữ của ông. Ông và Trương Húc đều chuyên giỏi lối cuồng thảo, nên người đời thường gọi là “Điên Trương cuồng Tố”.

Đến giữa thời Đường, xuất hiện một cao trào thứ hai của khải thư, mà nhân vật tiêu biểu là Nhan Chân Khanh ( ) và Liễu Công Quyền ( ). Nhan Chân Khanh là một bậc trung thần nghĩa sĩ trong thời gian sảy ra loạn An – Sử . Ông giỏi lối khải thư và hành thư, lại tinh thông về văn tự học. Tiền nhân cho rằng chữ khải thư của ông là học từ Âu Dương Tuân và Nguỵ Bi, với đặc điểm là bút lực mạnh, đậm, lấy tân làm cổ, lấy vụng làm khéo, tự hình đặc biệt mở rộng, mà đẹp đẽ, không cầu tiểu xảo hoa mỹ. Hành thư của ông được người đời ca ngợi là: “Như dung kim xuất dã, tuỳ địa lưu tẩu, nguyên khí hồn nhiên”- Như luyện vàng tôi bạc, tuỳ ý chảy tràn, nguyên khí tràn đầy, tròn trặn. Tác phẩm “Tế điệt Quý Minh văn cảo” của ông được người đời tôn xưng là “Thiên hạ đệ nhị hành thư” (Sau Lan Đình tự của Vương Hi Chi), một tác phẩm khác : “Tranh toạ vị cảo”, cũng là một danh tác.

Liễu Công Quyền sống sau Nhan Chân Khanh, cũng sở trường về khải thư và hành thư. Ông ban đầu học theo Vương Hi Chi, sau nghiên cứu khắp bút pháp thời Tuỳ, Đường rồi tự thành một phong cách riêng, thể chữ, thế chữ khoẻ đẹp, nét bút thanh gầy, lộ rõ gân cốt. Thời bấy giờ, các nước chư hầu đến nộp cống, đều chuẩn bị tài vật để mua lấy chữ của họ Liễu.

Đời Đường cũng có một nhà thư pháp nổi tiếng với lối Triện thư, đó chính là người chú họ của đại thi hào Lý Bạch : Lý Dương Băng ( ). Ông đặc biệt giỏi tiểu triện, với nét bút nhỏ, cứng, bút lực không kém chữ triện của Lý Tư đời Tần, được coi là một “thánh thủ” của triện thư đời Đường.

Đến thời Ngũ Đại, thư thể lại chuyển hướng dầy đậm. Dương Ngưng Thức ( ) và Lý Kiến Trung ( ) là những nhà thư pháp nổi tiếng nhất trong thời kỳ này. Dương Ngưng Thức bắt đầu thì học chữ Nhan Chân Khanh, cũng học được tới cái diệu của Nhị Vương, dụng bút nghiêm cẩn, nhưng phân hàng bố bạch cách nhau rất thưa. Ông còn giỏi cả lối viết cuồng thảo của Trương Húc. Lý Kiến Trung thì học Âu Dương Tuân, nhưng không theo trào lưu lối viết nét gầy nhỏ, lạnh lùng của những người học chữ họ Âu, mà tự thành một phong cách với nét bút dày, béo đậm.

Đến thời Tống, những bút tích thời Tấn Đường đã bị mai một nhiều, Tống Thái Tông hạ lệnh cho quan thị thư Vương Trứ ( ) tuyển tập bộ “Cổ tiên đế vương danh thần mặc tích”, khắc được mười cuốn thiếp thư pháp. Nhưng Vương Trứ không có đủ trình độ tinh tường rành rẽ về thư pháp, nên tuyển chọn vào không ít những nguỵ tác. Từ khi lưu hành bộ thiếp thư pháp này, đã làm hỏng nguyên tắc “Học thư tất cầu chân tích” (Học thư pháp của ai phải xem đúng bút tích thực của người đó), của người xưa, bút pháp cũng bị mai một đi nhiều. Tuy người đời Tống tiếp thụ được không nhiều truyền thống của đời trước, nhưng ở phương diện tự phát huy bản thân lại có nhiều điểm đáng để học tập. Những nhà thư pháp tiêu biểu thời Tống vẫn thường được biết đến là Tô (Thức), Hoàng (Đình Kiên), Mễ (Phất), Sái (Tương). Phong cách chung của các nhà thư pháp này là: tĩnh tại, dung dị, ý thái đổi mới. Tô Thức ( ) có cách cầm bút rất đặc biệt, gần giống như ngày nay cầm bút sắt, chỉ cầu được tự do viết ra theo phong cách, thần thái của mình. Ông và Hoàng Đình Kiên ( ) đều là những nhà thơ, nhà học giả lớn, tâm hồn rộng mở, kiến thức sâu sắc, coi trọng việc thể hiện được ý tứ ở ngoài nét bút, lĩnh hội được ý thú tiêu sái thời Tấn, vì thế viết chữ thì nét bút tròn trịa, mà vận vị tràn trề. Điểm khác biệt giữa chữ của hai người là: chữ Tô Thức thì thiên tư tự nhiên, trong ý bút thấy lộ rõ tình cảm; còn chữ Hoàng Đình Kiên thì lại có một thần thái tuấn dũng, anh kiệt khác vời. Hoàng Đình Kiên kết tự cũng vô cùng phóng khoáng, kết cấu bức chữ thường mang kiểu bức xạ, nét bút nhường tránh lẫn nhau, nhưng lại cùng tụ tập súm xít dầy đặc vào trung tâm, tinh thần vô cùng phấn phát. Ông sở trường về hành thư, thảo thư, riêng chữ khải lại tự mình lập ra một trường phái. Mễ Phất học bút pháp cổ nhân có thể nói là công phu nhất, dụng bút có thể xuất phong tám mặt, tạo ra rất nhiều tự hình của riêng mình. Chữ khải, lệ, triện cuả ông không tinh xảo lắm, nhưng ông lại rất nổi tiếng về hành thư và thảo thư. Phong cách trầm lặng mà bay bổng, đạt được bút ý của Vương Hiến Chi. Nhưng cũng có người cho rằng, ông quá cầu kỳ, quá ham thích việc thể hiện tài tình, nên trên mặt giấy tràn ngập nét mỹ miều, tràn ngập hoả khí, vẻ tuấn khoái thì có thừa mà cái ý thú hàm súc, tiêu sái thì chưa đủ. Nhưng bởi bút ý có ngọn ngành rành rẽ, nên vẫn hài hoà không tổn nhã. Con trai Mễ Phất là Mễ Hữu Nhân ( ) cũng rất giỏi thư hoạ, phong cách thư pháp thâm trầm kỳ lạ, nét chữ béo đậm, dày dặn tươi nhuận, cùng với cha mình được người đời gọi là “Đại, tiểu Mễ”. Sái Tương ( ) có phong cách giống với Nhan Lỗ Công, hành thư đứng thứ nhất, tiểu khải thứ nhì, thảo thư thứ ba, bút lực mạnh mẽ mà vẻ yểu điệu đẹp đẽ cũng có thừa, thời bấy giờ được suy tôn là “Tống triều đệ nhất”, Tống Nhân Tông rất thích chữ viết của ông. Tuy vậy dụng bút của ông cũng thể hiện sự cầu kỳ dụng tâm quá nhiều, chữ chữ đều tinh hoa tuyệt thế, yểu điệu khuê phòng, Mễ Phất đã đem chữ của ông so với những mỹ nhân nhà quý tộc, phong tư tuy đẹp, nhưng trang sức quá nhiều. Đó cũng là một nhược điểm của ông.

Cuối thời Bắc Tống có Sái Kinh ( ), thư pháp cũng được người đời đánh giá cao, thư pháp của Sái Kinh thế chữ hào hoa, khoẻ khoắn, lắng trầm mau lẹ, vẻ đẹp của bút pháp còn hơn cả Sái Tương. Có người cho rằng, “Sái” trong bốn nhà “Tô, Hoàng, Mễ, Sái” đúng ra là Sái Kinh chứ không phải Sái Tương, nhưng do Sái Kinh là một đại gian thần nổi tiếng trong sử sách, nên mới đổi thành Sái Tương. Thư pháp thời Nam Tống vẫn theo phong cách bốn nhà Tô, Hoàng, Mễ, Sái, bút lực nhìn chung yếu hơn, nhưng cũng có những thư thể cao siêu, túng dật, cương kiện vượt trội, như thư pháp của Nhạc Phi ( ) chẳng hạn, tác phẩm “Xuất sư biểu” của ông cũng là một trong những kiệt tác trong thư pháp thời Tống.

Đời Nguyên là thời kỳ phục cổ của thư pháp, nhân vật đại biểu nhất thời kỳ này là Triệu Mạnh Phủ ( ). Ông có trình độ hội hoạ thư pháp rất sâu, thư pháp của ông được coi là “Nguyên triều đệ nhất”, các loại thư thể đều quán tuyệt một thời, trở thành một nhà thư pháp tập hợp được hầu hết các lối viết. Ông ra sức khôi phục bút pháp của người xưa, luyện tập được bút ý tốt nhất của cổ nhân, bút lực cực mạnh, nhưng chủ trương tránh cái khó, theo cái dễ, mượn xưa thành nay. Ông viết chữ vừa nhiều, vừa nhanh, hạ bút như bay, khai sáng phong cách nhã mị, tú lệ đậm nhuần. Cũng có người còn hiềm lối viết của ông quá tròn trịa, thuần thục, nhưng thành tựu của ông lúc bấy giờ thực sự không một ai có thể so sánh, chỉ có Tiên Vu Khu ( ) với lối chữ hành thảo ngang tàng mang tư thái kỳ dị là được coi trọng như Triệu Mạnh Phủ.

Các nhà thư pháp cuối Nguyên, đầu Minh hầu hết đều học tập theo lối của Triệu Mạnh Phủ. Thư pháp đời Minh vẫn nằm trong khuôn khổ của thiếp học (học theo thiếp thư pháp cổ), phần lớn là hạn chế ở việc mô phỏng học theo, mà rất ít có sáng tạo mới. Thời kỳ này có Văn Trưng Minh ( ) và Chúc Doãn Minh ( ) là tương đối nổi tiếng, từng là những người lãnh đạo của những dòng thư pháp chính một thời. Văn Trưng Minh tinh thông cả thơ văn, hội hoạ, khải thư của ông học theo Nhị Vương, Âu, Ngu, Chử, Triệu, thanh lệ mà cổ nhã, học được sở trường của các danh gia trước. Chúc Doãn Minh thì bút ý tung hoành, tài tình phóng khoáng, dụng bút tròn, dày, đậm đà tú lệ, người bấy giờ ca ngợi chữ của ông “phong cốt lạn mạn, thiên chân túng dật” – Phong thái, cốt cách rạng ngời, tự nhiên nhàn túng, có thể theo kịp Triệu Mạnh Phủ. Cuối Minh, xuất hiện Đổng Kỳ Xương ( ), ông lúc ban đầu học theo Mễ Phất, sau tự luyện thành một trường phái riêng, danh truyền ra tận nước ngoài. Từ “Phỉ Hoa Thiếp” của Dương Ngưng Thức, ông tìm ra một lối hành khoản mới, giãn khoảng cách giữa các dòng, các chữ ra rất xa, viết chữ cũng không cầu quá đẹp, mà chỉ cốt sao tư thái của chữ có thể toát ra được một ý thú thanh đạm, cổ kính, ông cũng là người tiêu biểu đề xướng phong cách viết tự nhiên, nhàn đạm. Nhưng thư pháp của ông do học công phu cổ nhân chưa đủ, nên hành bút không tránh khỏi có những nét chống chếnh, vì thế mà đến cuối đời, ông đặc biệt nể phục công phu học tập người xưa của Triệu Mạnh Phủ. Tuy vậy, phong cách và thần thái tiêu sái thoát trần của ông thực sự đã mở ra một thư phái mới trong suốt một thời kỳ dài, mà ảnh hưởng của nó còn đến tận giữa đời Thanh.

Thư pháp đầu đời Thanh chủ yếu chịu ảnh hưởng của Đổng Kỳ Xương. Đến thời Càn Long lại chuyên học theo Triệu Mạnh Phủ, thời Gia Khánh, Đạo Quang thì chuyên tập Âu thư, thời Hàm Phong, Đồng Trị thì phong trào học tập theo Nguỵ Bi lại cực thịnh. Thời Càn Long, ngành khảo cứu hưng thịnh, một lượng lớn các bi chí được tìm thấy, thư pháp cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Đời Minh chỉ chuyên có thiếp học, thì từ giữa đời Thanh về sau, lại xuất hiện thêm loại hình bi học (học theo thư pháp trên bia) nữa, phát triển đến thời Tuyên Thống thì bi thiếp đã có những hoà trộn, lai tạp, dung hợp lẫn nhau.

Những nhà thư pháp thời đầu Thanh hầu hết là thuộc các thư phái đời Minh, đến Trương Chiếu ( ) mới có lối chữ riêng của đời Thanh. Trương Chiếu ban đầu học theo họ Đổng, trung niên về sau thì học họ Mễ, được coi là đại gia một thời, nhưng do ông viết theo thể đài các, thường thay Càn Long ngự bút, nên chữ ông mới trở nên thông tục phổ biến, chứ về khí vận thì còn xa mới sánh được với Đổng Kỳ Xương. Lưu Dung ( ) cũng là một đại gia xuất sắc ở đời Thanh, tuổi trẻ ông học Đổng Kỳ Xương, sau học theo Tô Đông Pha, hơn bảy mươi tuổi lại chuyên tâm học Nguỵ Bi, phong cách rất hồn hậu. Những nhà thư pháp nổi tiếng khác cùng thời ông và là những quan lại trong triều còn có: Vương Bành ( ), Ngô Vinh Quang ( ), Vương Văn Trị ( ), những danh gia ở ngoài dân gian, không tham gia quan chức cũng có: Trịnh Bản Kiều ( ), Cao Phượng Hàn ( ), Đinh Kính ( ), Kim Nông ( )…Do thời Càn Long, cựu học đã mất dần ưu thế, nên nhóm Trịnh Bản Kiều, Kim Nông … liền tham khảo vận dụng kết cấu của triện, lệ thư, bất kể bút pháp, biến thành cuồng quái, nhưng cũng vô cùng cổ kính, tú lệ riêng tuyệt.

Thời Đạo Quang, Nguyễn Nguyên ( ) viết sách “Nghiên kinh thất tập”, đem thư pháp xưa nay chia thành hai phái nam, bắc: Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần là Nam phái; Bắc triều đến Tuỳ là bắc phái, đề ra thuyết “Bắc bi Nam thiếp” (Bắc thì tiêu biểu là bia, Nam thì tiêu biểu là thiếp). Sau này, nhà lý luận thư pháp Bao Thế Thần ( ) đã kế thừa lý luận của ông, viết ra cuốn “Nghệ chu song tiếp”, trong đó, ngoài việc đề cao những nhà thư pháp nổi danh như Lưu Dung, Diêu Nãi ( )… ông còn đặc biệt đề cao một nhà thư pháp mẫu mực nữa, đó là Đặng Thạch Như ( ), cho rằng chữ triện và chữ lệ của Đặng Thạch Như là hàng đầu ở đời Thanh, chữ khải và chữ thảo cũng vào hàng tuyệt diệu. Đặng Thạch Như có hiệu là Hoàn Bạch Sơn nhân ( ), sống vào thời Gia Khánh, Đạo Quang, ông từng xem khắp các danh bia Tần Hán, tìm tòi chuông đỉnh từ thời tam đại (Hạ, Thương, Chu), mô phỏng, học tập chữ triện và chữ lệ. Triện thư của ông theo chữ của Lý Tư, Lý Dương Băng nhưng tung hoành khai hợp rất vi diệu, đặc biệt là chữ đại triện của ông, hơi mang ý tứ của chữ lệ, bỏ những nét nhọn mà giữ lấy nét mạnh cứng gẫy góc, tự thể hơi vuông, gần giống như những chữ viết trên trán bia, ngói, thời Tần Hán. Trên phương diện sử dụng bút lông để viết chữ triện, chữ lệ, có thể nói thành tựu của Đặng Thạch Như đến nay vẫn chưa có địch thủ.

Từ cuối đời Thanh cho đến thời Dân Quốc, phong trào tập theo bắc bi, càng ngày càng mạnh, Khang Hữu Vi viết “Quảng Nghệ chu song tiếp” đã tập trung vào đề xướng bi học. Một nhà thư pháp xuất sắc cuối cùng của thời Thanh cũng thường được nhắc đến, đó là Hà Thiệu Cơ ( ) – tiến sĩ thời Đạo Quang, cách sử dụng bút lông và thế tay cầm bút viết của ông có thể nói là thiên tài ích phát, công lực thâm hậu. Tuổi trẻ, ông học hành thư khải thư theo chữ Nhan Chân Khanh, mạnh mẽ, hào tráng. Trung niên, ông học bắc bi, đạt đến trình độ khá sâu. Cuối đời ông mới học triện thư và bát phân thư, đỉnh Chu, bia Hán, không có loại nào chưa từng nghiên tập, phỏng học, rồi đem dung hoà vào lối chữ hành, chữ khải, xuất thần nhập hoá, khiến cho thư pháp Trung hoa suốt mấy trăm năm lại được một lần chấn phát bởi bàn tay của ông. (*)

Sau Hà Thiệu Cơ, các thư phái ngày càng phát triển phức tạp, đa dạng. Ngày nay, thư pháp cũng vãn là một môn nghệ thuật khó và hấp dẫn nhiều tầng lớp quan tâm, học tập, nghiên cứu ở Trung Quốc, khó có thể nói hết được trong khuôn khổ một bài viết. Nhưng có một vấn đề thống nhất, đó là: dù thư pháp phát triển như thế nào thì vẫn phải phát huy, kế thừa và sáng tạo trên nền móng vững chắc hàng ngàn năm qua của nó. Không những ở Trung Quốc, mà các nước Á Đông chịu ảnh hưởng văn hoá Hán khác như: Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, … thư pháp chữ Hán cũng vẫn là một môn nghệ thuật có vị trí không nhỏ, vì vậy lịch sử phát triển của thư pháp chữ Hán trong suốt từ khi phát sinh cho đến hết thời kỳ phong kiến ở mảnh đất phát sinh ra nó luôn là một cơ sở, hình mẫu quan trọng cho những người luyện tập thư pháp nghiên cứu, học hỏi.

Thư pháp

Thư pháp cũng giống như hôị hoạ của Trung Quốc, đều là bộ phận quan trọng nhất của nghệ thuật truyền thống Trung Hoa. Có thể phân ra làm 3 thời kỳ phát triển của thư pháp. Giai đoạn thứ nhất là thời kỳ Tiên Tần (trước năm 221 trước công nguyên), đây là sơ kỳ của nghệ thuật thư pháp. Giai đoạn thứ hai từ năm 206 trước công nguyên đến năm 907 sau công nguyên, từ nhà Tây Hán đến cuối nhà Đường, đây là thời kỳ chín muồi của thư pháp. Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ thời kỳ Ngũ Đại đến cuối nhà Thanh (năm 907-1911), đây là giai đoạn phát triển có tính độc đáo.
Đời Thương (từ năm 1600 – đến năm 1100 trước công nguyên), sự xuất hiện Giáp Cốt Văn được coi là sự kiện quan trọng trong lịch sử văn tự Trung Quốc, được coi như là văn tự sớm nhất đồng thời là tác phẩm sớm nhất của nghệ thuật thư pháp. Văn tự của Chuông đỉnh văn tương tự như Giáp Cốt Văn nhưng là bước phát triển tiến bộ, nó được xuất hiện trên đỉnh của các đồ đồng cuối đời nhà Thương. Chuông đỉnh văn còn được gọi là Kim Văn. Theo thống kê thời Tây Chu, kim văn đã có hơn 4000 chữ. Vào đầu nhà Chu còn xuất hiện một loại chữ dùng sơn để viết lên các mảnh trúc, gọi là văn tự thằn lằn. Đại Triện là loại văn tự mới xuất hiện sau thời kỳ phát triển của Chuông đỉnh văn. Thạch cổ văn là tác phẩm đại biểu cho loại chữ này.
Đến đời Tần (211-206 TCN), Lý Tư đã cho tổng hợp lại văn tự trong toàn quốc, một loại chữ mới ra đời, gọi là Tiểu Triện. Ngoài Tiểu Triển, lúc này còn một thể chữ nữa do một người tên là Trình Diểu sáng tác ra, gọi là Lệ Thư. Từ Tây Hán đến cuối đời Đường, trải qua hơn 1000 năm, trong giai đoạn này thư pháp và hội hoạ là một, đều được thừa nhận như một môn nghệ thuật với giá trị ngang nhau. Đời Hán, trong thư pháp lưu hành hai thể loại: đó là chữ Triện và chữ Lệ. Suốt đời Hán, Lệ thư chiếm vị trí thống trị, chỉ có các quan lại mới sự dụng. Chữ Lệ tuy xuất hiện ở thời nhà Tần, nhưng chỉ đến đời Hán (206TCN- 220 SCN) mới thực sự phát triển. Đặc biệt trong thời kỳ Đông Hán (25-220 SCN) đã xuất hiện chữ Bát Phân, với đặc điểm là hình dáng của chữ giống hình chữ bát nên được gọi là Bát Phân Thư. Thời kỳ này nhà thư pháp nổi tiếng của thể loại Bát Phân Thư, đó là Thái Ung, với tác phẩm tiêu biểu Hỉ Bình Thạch Kinh. Thời Tấn (265-420 SCN) trên thư đàn đã có nhiều biến đổi lớn, chữ Chân chiếm vị trí chủ yếu, thể chữ Thảo, Hành là phụ ngoài ra thư pháp thời kỳ này chú trọng về phương diện thưởng thức nghệ thuật. Chữ Chân xuất hiện vào cuối đời Hán, Nguỵ, Tấn. Đó là loại chữ được phát triển trên cơ sở của chữ Bát Phân và Lệ thư . Người sáng tạo là Chung Ưu. Sau đời Tấn, chữ Chân trỏ thành thể chữ mà giới quan lại và dân thường đều sử dụng. Nhà thư pháp nổi tiếng của thể loại này là : Vương Hy Chi với tác phẩm Hoàng Đình Kinh, Lạc Y luận. Người đời tôn vinh ông là Thánh thư. Con trai của ông là Vương Hiến Chi cũng kế nghiệp cha, phát triển phong cách của mìnhh, và cũng trở thành một nhà thư pháp nổi tiếng, ông được gọi là Nhị vươubiểu Hành thư là một hình thức biến hoá của Lệ thư, người sáng tạo là Lưu Đức Thăng. Thể Hành thư xuất hiện sớm nhất là Hành Dã, sau đó mới phát triển thành thể chữ độc lập.Thảo thư thì phân thành Chương Thảo và Kim Thảo. Chương Thảo do Sử Du sáng tạo ra vào thời Hán Nguyên Đế (năm 48 TCN năm 33 TCN). Tác phẩm của ông có tên Cấp Tựu Chương, được coi như là tác phẩm thư pháp sớm nhất sử dụng lối Chương Thảo. Sau này Trương Chi đã phát triển Thảo thư thành một loại mới: Kim Thảo. Ông được mọi người gọi là Thánh Thảo. Nhà đại thư pháp Vương Hy Chi đã từng nhận xét , trình độ Thảo thư của ông cũng chỉ bằng Trương Chi mà thôi . Do vậy có thể thấy từ nhà Hán đến nhà Tấn, trên lĩnh vực Thảo thư, Trương Chi có một vị trí rất cao, tên tuổi của ông đã gắn liền vơí sự hoàn mỹ của nghệ thuật Thảo Thư. Đời Tuỳ, Tôn Qua Đình, Trưng Nhu, Hoài Tố đều là những Thảo thư m 48 TCN– Nghệ thuật thư pháp đời Đường có thể nói đã đạt đến đỉnh cao. Thời kỳ này xuất hiện nhiều nhà thư pháp nổi tiếng như: Âu Dương Tu, Liễu Công Quyền, Nhạn Trân Khanh, Ngu Thế Nam. Cho đến nay, những tác phẩm truyền thế của họ vẫn được coi là tác phẩm mẫu mực cho những người học thư pháp
Sau đời Đường, trong giới thư pháp những ai muốn nổi danh đều bắt buộc phải phát triển phong cách riêng của bản thân, vì vậy phong cách thư pháp sau đời Đường là giai đoạn phát triển của các phong cách cá nhân. Đời Tống ( 960-1279) xuất hiện những thư pháp gia nổi tiếng, đó là: Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, Mễ Nguyên Chương. Đời Nguyên, thì có Triệu Tử Ngang. Ông đã tạo ra một phong cách mới trong nghệ thuật Chân thư. Những tác phẩm của ông có ảnh hưởng rất lớn đến hậu thế. Nhà Minh ( 1368-1644), Thanh (1644-1911), cũng có nhiều nhà thư pháp nổi tiếng như Đổng Kỳ Xương, Văn Chính Minh, Bát Đại Sơn Nhân, Kim Nông, Hà Thiệu Cơ, Trịnh Bản Kiều, Khang Hữu Vi…
Sau khi nước Trung Hoa mới được thành lập nổi lên có các nhà thư pháp tài ba như Quách Mạt Nhược, Triệu Phác Sơ, Trần Thức Lượng, Thẩm Bằng, Tào Dung…
(Lưu Thuỷ – Theo báo Trung Quốc)

Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường – một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hoá Việt Nam

http://honvietquochoc.com.vn/Dien-dan-Trao-doi/Trao-doi-y-kien/Khoi-phuc-viec-day-chu-Han-trong-nha-truong.aspx
Khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường – một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hoá Việt Nam

6/25/2010

PGS.TS ĐOÀN LÊ GIANG (*)

1. Tại sao phải học chữ Hán?

1.1. Sự sụp đổ của tiếng Việt?

Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, tiếng Việt đang bị dùng sai một cách khủng khiếp. Chỉ có mấy từ dùng sai mà sửa mãi mấy chục năm vẫn không hết: yếu điểm được dùng như điểm yếu, cứu cánh được dùng như cứu giúp, thậm chí có nhà văn nọ trên báo Văn nghệ còn dùng từ khiếm nhã như là trang nhã…

Ngay cả sinh viên ngành khoa học xã hội và nhân văn mà vốn từ hết sức nghèo nàn. Nhiều trong số họ không còn có khả năng hiểu được cả những từ gắn với nhà trường như: học phong, môn phong, đồng song, đồng môn, không phân biệt được nghĩa của những chữ đồng âm như: Minh: thông minh, đồng minh, u minh, Đồng: đồng bào, đồng hồ, hài đồng v.v. Nếu như có dịp chúng ta thử thống kê một bài luận của một người có bằng thành chung trước 1945 và một người có bằng tú tài hiện nay xem vốn từ của họ chênh lệch với nhau như thế nào? Liệu tiếng Việt trong tương lai có thể sẽ như ngôn ngữ “chat” trên mạng không? Tiếng Việt có thể sẽ trở về như một thổ ngữ chỉ nói được những chuyện đơn giản thường nhật không?

Những sai lầm yếu kém trên sẽ không có nếu học sinh được học chữ Hán, có thói quen tra từ điển Hán – Việt và tiếng Việt. Vì vậy nếu như 50 năm trước Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là do lo ngại tình trạng lạm dụng từ gốc Hán, như: thay vì sân bay thì nói phi trường, núi lửa thì nói hỏa diệm sơn, tàu ngầm thì nói tiềm thủy đĩnh…, nhưng với tình hình giáo dục như hiện nay thì lấy đâu ra người hiểu được chữ Diệm là cái sáng, cái nóng trên ngọn lửa, Tiềm thủy là ẩn dưới nước…, thế cho nên bây giờ nói đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt chính lại là phải học chữ Hán.

Ở Nhật Bản từ mấy chục năm trước những trí thức có tâm huyết đã báo động về nguy cơ suy thoái của tiếng Nhật qua một loạt sách bán rất chạy với tựa đề gây “sốc”: Sự sụp đổ của tiếng Nhật ,(崩れゆく日本語), Tại sao người ta phá hoại tiếng Nhật? (なぜ日本語を破壊するのか) của Fukuda Tsuneari 福田恒存; Tiếng Nhật hấp hối (死に掛けた日本語) của Tsuchiya Michio 土屋道雄(1).

Trong đó cuốn Sự sụp đổ của tiếng Nhật với phụ chú “Tiếng Nhật của bạn đang hỗn loạn như thế nào!” (あなたの日本語はこんなに乱れている) trở thành một loại sách bestseller – trong vòng 3 năm nó được tái bản đến 10 lần với số lượng hàng trăm ngàn bản. Trong tất cả các sách ấy, người ta đều quy nguyên nhân cho sự suy thoái của tiếng Nhật là ở chỗ dùng từ gốc Hán sai, kiến thức về chữ Hán nghèo nàn, lạm dụng từ gốc tiếng Anh…

Tiếng Nhật với một chương trình giáo dục chú ý giảng dạy gần 2000 chữ Hán mà còn như vậy, huống chi tiếng Việt. Trước tình hình giáo dục và sử dụng tiếng Việt như hiện nay, chúng ta cảnh báo về sự sụp đổ của tiếng Việt có còn sớm quá không? Số từ gốc Hán chiếm đến 70% số từ vựng tiếng Việt, mà người Việt không học chữ Hán, không hiểu chữ Hán, thế thì làm sao mà chẳng dùng từ sai và vốn từ nghèo nàn. Nếu tình hình không được cải thiện thì viễn cảnh về sự sụp đổ của tiếng Việt sẽ còn không xa.

1.2. Vong bản ngay trên đất nước mình

Có lần một sinh viên Nhật Bản khoe với tôi: Em đến thăm chùa Vĩnh Nghiêm thấy đề là chùa thuộc phái Lâm Tế, em thấy rất thân thuộc vì giống như ngôi chùa ở gần nhà bà ngoại em. Thế nhưng đối với một thanh niên Việt Nam thì khi họ đến chùa Vĩnh Nghiêm hay chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp…, nhìn lên bảng hiệu, hoành phi, câu đối hay bài vị, họ sẽ cảm thấy xa lạ như bất kỳ một ngôi chùa nào ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…

Thanh niên Việt Nam không còn thấy có một mối dây liên hệ nào giữa mình với quá khứ của ông cha: đình chùa, miếu mạo, thư tịch. Họ không có xúc cảm nào trước một tập thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, một quyển Kiều bằng chữ Nôm, một ngôi mộ của Nguyễn Du, của Nguyễn Đình Chiểu…Có thể nói thanh niên Việt Nam đang vong bản ngay chính trên đất nước mình. Thế nên ai cũng thấy, so với các nước Đông Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…thanh niên Việt Nam hiện đại hóa yếu nhất, nhưng đồng thời cũng giữ bản sắc dân tộc kém nhất. Vì vậy nếu như vào thời Lê, Nguyễn Trãi yêu cầu phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tức là không lạm dụng văn hóa, ngôn ngữ, trang phục Hán, bây giờ giữ gìn bản sắc dân tộc thì lại phải học chữ Hán và có hiểu biết về văn hóa phương Đông(2).

1.3. Các trí thức, nghiên cứu sinh Việt Nam với các trí thức, nghiên cứu sinh Đông Á

Khi một nhà văn Nga, Mỹ đến thăm Y.Kawabata, nhà văn Nhật Bản được giải Nobel năm 1968, thì được Kawabata viết tặng cho một bức thư pháp chữ Hán theo phong cách Nhật Bản. Một giáo sư Trung Quốc, Đài Loan đến thăm một giáo sư Việt Nam, các ông cũng thường tặng một bức thư pháp. Cái thú tao nhã ấy đối với các nhà văn Việt Nam đã lùi xa lắm rồi – thời Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương thì còn, chứ như bây giờ thì hoàn toàn không. Trong giao tiếp còn như vậy huống chi trong sáng tác. Vì vậy sẽ không lấy làm lạ khi trong tác phẩm của các nhà văn Đông Á chiều sâu của văn hóa truyền thống sâu sắc hơn hẳn các nhà văn Việt Nam hiện nay.

Đối với nhà văn thì thế, với các nhà nghiên cứu tình trạng cũng buồn không kém. Các nhà nghiên cứu Đông Á – trừ Việt Nam, dù không nghiên cứu chuyên về cổ điển nhưng vẫn hiểu được khá sâu chữ Hán và văn hóa truyền thống của họ. Dù họ làm văn, sử, triết, nhân học, ngôn ngữ học…hiện đại, họ vẫn có thể đọc được thư tịch cổ của nước họ – với nhiều mức độ khác nhau.

Ở Việt Nam một nhà nghiên cứu sẽ cảm thấy rất khó khăn khi hiểu về những vấn đề văn, sử, triết, ngôn ngữ cổ của dân tộc mình. Sinh viên, nghiên cứu sinh về KHXH và nhân văn của Việt Nam gần như không hiểu được sách vở của cha ông nếu không được dịch, chú, phiên âm ra chữ quốc ngữ Latin – mà đã đọc bản dịch mà không có khả năng kiểm tra độ chính xác của bản dịch ấy thì mức độ tiếp thu, thấu hiểu rất khiêm tốn.

Có một hiện tượng cần lưu ý là hiện nay có nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học Trung Quốc đang nghiên cứu rất sâu về văn hóa cổ của Việt Nam – mà Đại học Quảng Tây là một trung tâm được phân công chuyên nghiên cứu về việc ấy. Họ nghiên cứu từ văn bản gốc về Lý Công Uẩn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn…, trong khi đó hầu như các nghiên cứu sinh Việt Nam không thể làm được điều ấy – trừ số tốt nghiệp chuyên ngành Hán Nôm(3).

Có thể nói khi ra nước ngoài học tập, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh Việt Nam không thua kém gì so với sinh viên các nước Đông Á khác về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, hay kể cả kinh tế, nhưng về KHXH và NV thì còn kém khá xa. Không ít sinh viên Việt Nam than thở không biết biểu diễn bộ môn văn hóa truyền thống gì cho bạn bè các nước xem, trong khi sinh viên Hàn Quốc ai cũng biết biểu diễn trống dân tộc và viết được thư pháp Hàn, sinh viên Nhật thì khỏi phải nói: trà đạo, kiếm đạo, hoa đạo, nhu đạo, thư đạo…Sinh viên Việt Nam ngoài áo dài và nem rán ra thì hết!

Tại sao sinh viên Việt Nam đến nông nỗi ấy? Trước hết là vì kinh tế, nhưng quan trọng hơn là: nền giáo dục của chúng ta rất kém trong việc giáo dục văn hóa truyền thống mà việc loại bỏ chữ Hán là biểu hiện đầu tiên và gây ấn tượng nhất. Học tắt, “đi tắt” là não trạng chiến tranh hay là một khiếm khuyết của dân tộc?

Sinh thời nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo từng nói nhiều về ích lợi của chữ Hán trong sự phát triển của trí tuệ, từng cảnh báo nhiều lần về nguy cơ hiểu biết hời hợt về văn hóa của người Việt khi Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực Đông Á bỏ chữ Hán hoàn toàn. Gần đây GS. Nguyễn Đình Chú cũng viết bài nói về sự cần thiết phải khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường(4). Việc dạy chữ Hán không phải được đặt ra gần đây, mà nó đã được đặt ra từ hơn 100 năm trước – từ thời các chí sĩ duy tân mở trường Đông Kinh Nghĩa thục, rồi trở đi trở lại nhiều lần trong lịch sử giáo dục Việt Nam, nhưng rồi do chiến tranh, do những lấn cấn trong quan hệ Việt-Trung và nhất là do nhận thức chưa tới mà chủ trương ấy đành bỏ dở.

2. 100 năm – một chủ trương bỏ dở

2.1. Ước mơ của thế hệ trí thức cận đại

Trong luận văn khét tiếng Luận về chính học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế, nhà chí sĩ đã phê phán một cách mạnh mẽ tình trạng học thuật đương thời: “Âu học vẫn chưa vin được ngọn ngành mà Hán học đã đứt cả cội rễ”(5). Ông vẫn mơ ước dân tộc ta có một nền Quốc học sâu sắc để làm cơ sở tiếp thu nền văn minh hiện đại từ phương Tây.

Trường Đông Kinh Nghĩa Thục của các chí sĩ duy tân thành lập năm 1907, cho đến nay vẫn được nhiều chuyên gia về lịch sử, ngữ văn, giáo dục đánh giá là trường học có tư tưởng giáo dục tiên tiến nhất, sâu sắc nhất ở nước ta từ trước đến nay. Trường đề cao thực học, đề cao tự do trình bày tư tưởng, cổ động việc học chữ quốc ngữ Latin thay cho chữ Nôm, nhưng bên cạnh đó Trường vẫn tổ chức học một cách nghiêm túc 2 ngoại ngữ bắt buộc: Pháp văn (do Nguyễn Văn Vĩnh cùng một số nhà giáo nữa phụ trách) và Hán văn (do Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm…phụ trách). Nếu từ đó đến nay tư tưởng giáo dục ấy được thực hiện thì chúng ta đã có một nền giáo dục Việt Nam khác hẳn: hiện đại hơn, nhưng cũng đậm đà bản sắc dân tộc hơn.

Trước 1945 ở nước ta, sau khi thực dân Pháp bỏ các kỳ thi chữ Hán thì chữ Hán vẫn được giảng dạy trong nhà trường, mỗi tuần 1-2 tiết. Tuy số tiết học rất ít ỏi, nhưng cũng đủ cho người học hiểu được chữ Hán, không dùng sai tiếng Việt và để cái tinh thần truyền thống qua thứ chữ ấy góp phần tạo nên cốt cách con người. Nhiều gia đình có gia phong tốt vẫn mời thầy về hoặc tự gia đình mình dạy chữ Hán cho con cháu. Nhờ cách làm ấy mà các trí thức được đào tạo thời Pháp nhìn chung đều có một kiến thức Hán học khá vững chắc bên cạnh kiến thức Tây học căn bản. Chính họ chứ không phải ai khác đã làm rường cột trí thức cho quốc gia và mãi mãi là niềm tự hào của đất nước: Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Ca Văn Thỉnh, Trần Văn Giáp, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giàu…

2.2.Chương trình Hán văn khóa bản ở miền Nam trước 1975

Nhận thức được tầm quan trọng của chữ Hán nên Bộ Quốc gia Giáo dục miền Nam trước 1975 từng tổ chức một chương trình Hán văn dạy cho học sinh từ trung học đệ nhất cấp với bộ sách giáo khoa khá tốt: Hán văn khóa bản, học 1 giờ/ tuần bên cạnh hai sinh ngữ bắt buộc: Anh văn và Pháp văn. Lên đến trung học đệ nhị cấp, các chuyên ban được chia ra như sau:

– Ban A: chuyên sâu về Vạn vật

– Ban B: chuyên sâu về Toán

– Ban C: chuyên về Sinh ngữ (Anh, Pháp)

– Ban D: chuyên về cổ ngữ (chọn Anh hoặc Pháp và một cổ ngữ: Hán văn hoặc Latin) (6)

Một chương trình như thế là rất căn bản, rất đáng tham khảo, học tập. Các nhà làm giáo dục ở miền Nam cũng hiểu cái tế toái của việc dạy – học chữ Hán, cái khổ công của việc học một hai ngoại ngữ, nhưng họ sẵn sàng bỏ bớt nhiều môn học khác để dành thời gian học ngôn ngữ và cổ ngữ (học cả tiếng Latin như các trường phổ thông ở châu Âu), vì chỉ qua ngôn ngữ người ta mới hiểu sâu được văn hóa và mới có thể phát triển tư duy. Học ngôn ngữ là cái học căn bản, từ đó tạo điều kiện cho người ta tự học, tự học suốt đời. Ngày nay để giải quyết tận gốc cái tệ “trần ngôn sáo ngữ” trong việc học và thi môn ngữ văn ở trường phổ thông, tôi thấy cần phải tham khảo nghiêm túc chương trình giáo dục, trước hết là quốc văn và sinh ngữ của miền Nam trước 1975 cùng với chương trình các nước Đông Á và phương Tây khác để làm ra một chương trình mới căn bản hơn, hiện đại hơn, có tác dụng bồi bổ nguyên khí của quốc gia.

2.3. “Thoát Hán học”?

Ở miền Bắc chữ Hán bị loại hẳn ra khỏi trường phổ thông từ khá sớm. Trong chương trình giáo dục phổ thông không thấy học Hán văn mà chỉ có môn Trung văn với tính cách là môn ngoại ngữ hàng đầu cùng với môn Nga văn. Nguyên nhân của sự ghẻ lạnh với chữ Hán có lẽ xuất phát từ không khí “phản đế phản phong” bao trùm xã hội bấy giờ. Tất cả những gì thuộc về cổ học và Hán học đều dễ bị đánh đồng với chế độ phong kiến tàn ác, bảo thủ, lạc hậu. Phải chăng lúc bấy giờ chúng ta muốn xây dựng nền giáo dục mới, con người mới, xã hội mới, một nền độc lập tự chủ trên cơ sở một nước Việt Nam mới phủ định quá khứ phong kiến, có xu hướng “thoát Hán học”?

Cách mạng văn hóa của Trung Quốc nổ ra, ít nhiều ảnh hưởng đến nước ta với khẩu hiệu “phê Lâm phê Khổng” (phê tên phản động Lâm Bưu, phê Khổng Tử) làm cho xu hướng bài xích Hán học càng mạnh. Đỉnh điểm của xu hướng bài xích Hán học ấy là việc Trung văn, Hán học bị lẳng lặng đưa ra khỏi nhà trường sau khi tiếng súng của người đàn anh khổng lồ nổ ra ở biên giới phía Bắc năm 1979.

Thoát Hán học có phải là con đường đúng đắn để xây dựng nền giáo dục mới không? Hán học có mặt ở nước ta hàng nghìn năm nay, gắn bó với dân tộc này, nên nó đã trở thành một phần của Quốc học. Vì thế “thoát Hán học” cũng mở đường cho thoát Quốc học. Các nước Đông Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc không cần thoát Hán học, thậm chí đưa cả một phần tinh thần Hán học vào hoạt động kinh tế, xã hội, thế mà vẫn xây dựng được đất nước hùng cường với một nền kinh tế phát triển, một nền công nghiệp hiện đại.

3. Dạy chữ Hán trong nhà trường như thế nào?

3.1. Người Việt cô đơn ở khu vực Đông Á

Hiện nay cùng với sự tăng trưởng đầu tư mạnh mẽ của các nước Đông Á, số lượng học viên học các tiếng Hoa, Nhật, Hàn tăng lên nhanh chóng. Theo thống kê gần đây: số lượng người học tiếng Nhật toàn quốc lên đến 20.000 người, số lượng người học tiếng Hoa nhiều hơn một chút. Việc học các ngôn ngữ phương Đông có sử dụng chữ Hán như trên, khiến cho sinh viên Việt Nam càng thấy trong vốn ngôn ngữ của mình thiếu hụt trầm trọng chữ Hán và vốn văn hóa truyền thống quá nghèo nàn.

Sau giấc mơ hiện đại hóa bằng cách làm bạn với các nước XHCN Đông Âu bất thành, Việt Nam trở về với khu vực của mình: Đông Nam Á và Đông Á. Văn hóa Đông Nam Á là cơ tầng thứ nhất của Việt Nam, nhưng chúng ta đã xa cách vùng văn hoá này từ hàng nghìn năm nay, ngày nay chúng ta càng cảm thấy xa hơn nữa do tôn giáo Đông Nam Á chủ yếu là Hồi giáo và Phật giáo tiểu thừa.

Việt Nam trở về với khu vực Đông Á, còn được mệnh danh là Khu vực văn hóa chữ Hán (Hán tự văn hóa quyển), phát triển mạnh mẽ hơn, mà gần gũi với mình hơn. Trở về với Đông Á mới thấy việc loại bỏ hoàn toàn chữ Hán ra khỏi chương trình giáo dục khiến người Việt Nam hiện tại đứt đoạn với truyền thống dân tộc, và người Việt trở nên lạc lõng, cô đơn với các nước trong khu vực. Dân tộc Việt Nam vốn không phải là một dân tộc cực đoan, nhưng do những trớ trêu của lịch sử và cả sai lầm trong nhận thức khiến cho chúng ta đoạn tuyệt với chữ viết, văn hóa ông cha mạnh mẽ hơn tất cả các quốc gia khu vực văn hóa chữ Hán còn lại.

Nhìn ra các nước Đông Á, không có nước nào dám đoạn tuyệt với chữ Hán:

• Người Trung Quốc trước kia trong cơn sùng bái phương Tây và đổ lỗi sự lạc hậu của dân tộc mình cho chữ Hán, đã từng mơ Latin hóa chữ viết của mình, nhưng giấc mơ ấy bất khả. Họ đành bằng lòng quay về với việc dùng chữ Hán giản thể, và dạy cho học sinh phổ thông biết tối thiểu khoảng 3.000 chữ Hán để có thể đọc được tiếng phổ thông.

• Người Nhật Bản cũng từng thử nghiệm dùng chữ Romaji (Chữ Latin) nhưng những văn bản Latin tiếng Nhật hồi đầu thế kỷ XX trở thành những bản mật mã. Họ đành sử dụng hệ thống chữ Kana (chữ phiên âm) mà dân tộc họ đã sáng tạo ra từ hơn 10 thế kỷ trước với hai dạng Hiragana và Katakana(7), bên cạnh đó vẫn phải bắt buộc học sinh tốt nghiệp trung học phải biết thuần thục 1.945 chữ Hán

• Người Hàn Quốc chính thức sử dụng chữ Hangul mà dân tộc họ đã sáng tạo ra từ TK.XV(8), trong văn bản tiếng Hàn thông thường hiện nay hầu như không còn chữ Hán nữa, nhưng những văn bản cổ hơn hay tài liệu khoa học thì dùng khá nhiều. Vì vậy chương trình giáo dục của Hàn Quốc vẫn dạy chữ Hán cho học sinh: cấp 2 dạy 900 chữ, cấp 3 dạy 900 chữ, tổng cộng là 1800 chữ. Lên đại học, sinh viên muốn đi sâu vào KHXH thì phải học chữ Hán nhiều hơn nữa.

Chỉ riêng có Việt Nam là hoàn toàn không dạy chữ Hán trong chương trình phổ thông. Điều ấy có liên quan gì không với tình trạng kinh tế Việt Nam phát triển kém nhất, tiếng Việt dùng sai, nghèo nàn và bản sắc văn hóa dân tộc mờ nhạt nhất so với các nước trong khu vực?

3.2. Làm thế nào để dạy chữ Hán trong nhà trường?

Hiện nay chữ Hán đã “tuyệt chủng” ở Việt Nam chưa? Mặc dù tình hình học tập chữ Hán khó khăn như thế, nhưng chữ Hán vẫn còn sống. Những người biết chữ Hán bao gồm:

– Những nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên nghiên cứu về Hán Nôm. Hiện có 3 trung tâm lớn nghiên cứu và giảng dạy lâu đời về chữ Hán là: Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bộ môn Hán Nôm thuộc Khoa Văn học, Trường ĐH KHXH và NV – ĐHQG HN và Bộ môn Hán Nôm thuộc Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH và NV – ĐHQG TP.HCM

– Một số học giả từng được đào tạo về Hán Nôm đang làm việc ở các ngành khác: văn, sử, triết, văn hóa…

– Một số người tự học Hán Nôm hay được đào tạo Hán Nôm từ những chương trình khác nhau: từ gia đình cho đến trường học.

Chủ trương đưa chữ Hán vào dạy trong trường phổ thông chắc chắn sẽ gây phản ứng dữ dội từ nhiều phía. Chúng tôi đã hình dung ra những câu hỏi cơ bản và cách trả lời sau:

(1) Hỏi: Sao không nghĩ học cái gì khác hiện đại, kiếm ra tiền, lại bày ra trò học Hán Nôm – một thứ chữ “cổ lỗ, lạc hậu” đã chết từ lâu rồi?

Trả lời: Việc giáo dục không phải chỉ học cái hiện đại, dễ kiếm tiền, việc giáo dục con người có sứ mệnh lớn hơn thế nhiều. Lợi ích của việc học chữ Hán như đã nói ở trên là để cứu lấy tiếng Việt, để bảo vệ văn hóa dân tộc, để góp phần xây dựng người Việt Nam trở thành những con người có học vấn, có căn bản, biết tiếp thu cái mới, nhưng cũng biết kế thừa tinh hoa truyền thống…Việc làm này không có gì mới mà chỉ là kế thừa tư tưởng giáo dục của ông cha từ trường Đông Kinh Nghĩa Thục cho đến chương trình giáo dục của miền Nam trước 1975, cũng tương tự như người Nhật, người Hàn dạy chữ Hán, người phương Tây dạy chữ Latin cho con em họ.

(2) Hỏi: Học sinh hiện nay học đã quá tải rồi, học thêm chữ Hán nữa thì còn thì giờ đâu nữa?

Trả lời: Học trò quá tải vì chương trình của chúng ta quá rườm rà và vì cách học nhồi nhét, cách thi theo kiểu “trả bài” của chúng ta. Nên lược bớt chương trình đi, chỉ học những môn căn bản thôi. Chữ Hán là một trong những môn căn bản. Chính việc học chữ Hán sẽ cho chúng ta thấy học ngữ văn mà học thuộc văn mẫu mất rất nhiều thì giờ như hiện nay là không cần thiết. Hơn nữa có lẽ trước mắt chúng ta chỉ cần dạy cho học sinh khoảng 1000 chữ Hán để cho họ biết chữ nghĩa căn bản, biết cách tra từ điển, biết cách tự học, những ai có hứng thú thì có thể học lên chuyên ngành ở đại học. Sau này khi có điều kiện tốt hơn, có thể dạy khoảng 2000 chữ Hán như người Nhật, người Hàn Quốc đang làm.

(3) Hỏi: Hay để giản tiện, chỉ học âm Hán Việt như trong các sách ngữ văn hiện nay có được không?

Không được. Vì chữ Hán là một thể thống nhất Hình – Âm – Nghĩa, chúng ta lược bỏ Hình đi thì từ gốc Hán sẽ không để lại một dấu ấn nào khả dĩ trong đầu óc học sinh. Hơn nữa mỗi một chữ Hán còn mang theo nó toàn bộ văn hóa truyền thống.

(4) Hỏi: Giả sử Quốc hội cho phép thực hiện chương trình dạy chữ Hán đại trà ở trường phổ thông thì lấy đâu là giáo viên?

Trả lời: Hiện nay vẫn có nhiều giảng viên ở những đại học lớn biết chữ Hán nhất là ở các khoa ngữ văn, lịch sử của các trường đại học ở Hà Nội, Vinh, Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, TP.HCM, Cần Thơ…Chúng ta bắt đầu từ việc dạy đại trà cho sinh viên ngữ văn ở các đại học, rồi cho dạy thí điểm ở một số trường phổ thông. Sau đó dạy cho học sinh trung học cơ sở. Dần dần mở rộng ra học sinh chuyên ban KHXH ở trung học phổ thông. Cuối cùng mới tính toán đến việc dạy cho tất cả học sinh các ban khác.

4. Kết luận

Tôi có một niềm tin sâu sắc rằng việc dạy chữ Hán trong trường phổ thông là một xu hướng không thể đảo ngược được, các cơ quan có trách nhiệm cũng như một bộ phận trong dân chúng chỉ có thể trì hoãn chứ không thể cản trở được xu hướng này.

Chừng nào chúng ta còn dùng tiếng Việt, chừng nào chúng ta còn coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc, chừng nào chúng ta còn nhìn các nước Đông Á như những cái mốc cần phải đạt được, thì chừng ấy chúng ta còn cần phải dạy chữ Hán. Đời nay không làm thì đời sau, con cháu chúng ta có hiểu biết hơn họ nhất định cũng sẽ làm. Chỉ có điều lúc ấy việc giảng dạy sẽ khó khăn hơn, cái giá phải trả về sự mất gốc, khủng hoảng tiếng Việt nặng nề hơn và chúng ta phải chịu sự oán trách của hậu thế.

Nếu chúng ta kiên quyết, kiên trì đưa Hán văn vào chương trình phổ thông thì sẽ đến ngày chúng ta thấy kết quả. Tiếng Việt của chúng ta sẽ giàu có hơn, trong sáng hơn, ít bị sai hơn. Chúng ta sẽ có được thế hệ người Việt Nam mới: hiện đại, giàu có, mạnh mẽ, nhưng cũng uyên thâm cổ học, biết cắm rễ tri thức của mình vào nguồn mạch phương Đông và dân tộc, biết sống thung dung theo đạo học phương Đông và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…như người Trung Quốc, người Nhật Bản, người Hàn Quốc. Một thế hệ người Việt Nam mới như mong ước của các sĩ phu Duy tân đầu TK.XX và của cả dân tộc ta sẽ thành sự thật.

TP.HCM, tháng 4 năm 2010

(Trích từ Tham luận Hội thảo Khoa học Toàn quốc: Phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay)

Liễu Công Quyền

1. Liễu Công Quyền – 柳公权 (778 – 865), tự là Thành Huyền – 诚悬, người Kinh Triệu, đỗ Tiến sĩ vào niên hiệu Nguyên Hoà đời Đường Hiến Tông, nhận chức Hàn lâm viện Thị thư Học sĩ đời Đường Mục Tông sau làm tới chức Thái tử Thiếu sư, người đời còn gọi ông là “Liễu thiếu sư – 柳少师”. Ông là người bản tính cương trực, từ nhỏ đã giỏi thơ văn, tinh Thư pháp chữ Triện, Thảo, Hành, Khải, trong đó Khải thư xuất sắc nhất, trở thành Thư gia tiêu biểu thời kỳ vãn Đường.

Thư pháp của ông, lúc đầu học Nhị Vương (tức là Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi), sau đó học hầu hết phép tắc Khải thư đời Tuỳ, Đường, vì vậy các tác phẩm của ông vừa mang diện mạo của người đời Nguỵ, Tấn, lại có vẻ gầy guộc, cứng cỏi của Long Tàng tự bi đời Tuỳ, đồng thời thể hiện được tinh hoa các danh gia đời Đường. Đối với Thư pháp thời Thịnh Đường, ông chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Nhan Chân Khanh, thể hiện rõ ở các nét chuyển, chiết, câu, hất, phẩy, mác. Nhìn chung, Liễu Công Quyền đã dung hội được những tinh tuý của danh gia thời cổ, viết nên lối chữ hết sức khoẻ khoắn, rõ ràng, thần khí vừa mạnh mẽ vừa thanh tú, vuông tròn đầy đủ, phép tắc sâm nghiêm mà chứa đựng nhiều biến hoá, xứng đáng là tông sư của một thời.
  
Khải thư của Liễu Công Quyền xuất phát từ khía cạnh kế thừa và phát triển truyền thống nên gần gũi với đời sống; cùng như chữ của Nhan Chân Khanh, chữ của Liễu Công Quyền trở thành một thư thể có giá trị, ảnh hưởng lớn tới đời sau. Chữ Khải của người đời Đường duy chỉ có Nhan thể, Liễu thể có thể vừa dùng để viết bia văn Đại Khải hoặc chữ Bảng thư, vừa dùng để viết trung, tiểu Khải. Chữ của Liễu được người đời ưa chuộng, truyền sang tận Nhật Bản; đối với người mới học Khải thư, Liễu thể là một trong những thể chữ mẫu mực bởi sự đoan chính của hình chữ dễ dàng cho việc nhập môn.

2. Tác phẩm tiêu biểu của Liễu Công Quyền là hai thác bản “Huyền Bí tháp bi – 玄秘塔碑” và “Thần Sách quân bi – 神策军碑”:

Huyền Bí tháp bi”: Huyền Bí tháp bi do Đại Đạt pháp sư – 大达法师 lập năm Hội Xương – 会昌 nguyên niên (841) đời Đường Vũ Tông. Nội dung văn bia do Triều tán đại phu kiêm Ngự sử trung thừa Bùi Hưu – 裴休 soạn, Liễu Công Quyền viết chữ, năm ấy ông 63 tuổi. Toàn bức hơn 1200 chữ, hiện bia còn đặt tại rừng bia Tây An. Hơn 1000 năm nay, nét chữ vẫn còn rõ ràng.

Đặc điểm nổi bật của tự thể trong bia là sự đoan chính thanh tú, dụng bút ngay ngắn, linh hoạt, hiển hiện gân cốt, ẩn sự hồn hậu, tròn trịa trong đường nét cứng cỏi. Đây là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của Liễu Công Quyền. Đại thư gia kiêm giám định gia đời Minh là Đổng Kỳ Xương – 董其昌 từng bình luận rằng: “Ta học Ngu, Chử, Âu, Nhan chỉ qua loa. Từ khi học chữ Liễu Thành Huyền mới ngộ được phép dụng bút đời cổ. Từ nay trở đi, không thể bỏ qua phép tắc trong chữ Liễu trong khi học Hữu quân được.” Ý tứ của ông là: muốn học chữ của Thư thánh Vương Hi Chi đời Tấn, trước tiên nên học từ phép tắc trong chữ của Liễu Công Quyền, đó là con đường nhanh nhất. Từ bút tích trong “Huyền Bí tháp bi” có thể thấy ẩn chứa ý thú của Thư phong Nhị Vương, minh chứng cho lời bình luận của Đổng Kỳ Xương.

“Thần Sách quân bi”: Thần Sách quân là phiên chế quân đội đời Đường, thuộc cấm quân cận vệ cạnh hoàng đế, phân thành Tả, Hữu Thần Sách quân. Bia này lập năm Hội Xương thứ 3 (843) lúc Liễu Công Quyền đã 65 tuổi. Nội dung bia ghi lại việc Đường Vũ Tông tới tuần doanh quân Tả Thần Sách. Bia này dựng trong quân doanh, không cho người ngoài vào dập bia vì vậy thác bản bia này còn lại rất ít. Chính bởi nguyên nhân đó, chữ trên bia không bị ảnh hưởng nhiều, đường nét trên các thác bản còn lại rất ngay ngắn, rõ ràng như mới. Kết thể chữ nghiêm cẩn, hiểm trở, thể hiện cả phong cách của Âu thể, có cái khí thế chém đinh chặt sắt, lại có cả phong cách hùng kiện, thuần hậu của Nhan thể, đầy đủ cốt nhục, là tác phẩm quý giá khái quát được Khải pháp của tiền nhân. Người đời bình luận bia này là “Thần thái, phong cách tề chỉnh, hiểm trở, khí độ ôn hoà, là tác phẩm đẹp đệ nhất của Liễu Công Quyền”. Sự thực trong cách bút tích Đại Khải của Liễu Công Quyền, “Thần Sách quân bi” đã kế thừa được “Huyền Bí tháp bi”, đồng thời trình hiện một diện mạo hoàn toàn mới mẻ. Trong các thác bản còn lại, thác bản đời Ngũ Đại (có thuyết cho rằng đời Tống) quý giá nhất bởi được dập một cách cẩn thận, bút tích trên thác bản thể hiện thần, khí hoàn hảo, có lẽ không khác gì với chân tích. Mặc dù vậy, thác bản này vốn được san định thành 2 quyển, quyển hạ đã thất truyền, chỉ còn quyển thượng kết thúc ở chữ “thành – 诚”. Trên quyển này còn dấu thâu tàng của Giả Tự Đạo đời Tống, Hàn lâm Quốc sử viện đời Nguyên… Quyển lưu lạc nhiều nơi cuối cùng đến HongKong. Năm 1965, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai chỉ thị mua lại, hiện lưu giữ ở Thư viện Bắc Kinh.

II. Đặc trưng dụng bút trong chữ Liễu thể

Chấp bút ở ngón tay, vận bút nhờ cổ tay; khi viết, viết từ đường nét để tổ hợp thành chữ. Biểu hiện của hình thái chữ cốt ở hình thái của đường nét. Bất cứ vấn đề dụng bút nào của đường nét, như: khởi thu, dài ngắn, vuông tròn, đậm mảnh, cao thấp, hướng bối, ngay thẳng, cong nghiêng, nhẹ mạnh, nhanh chậm, hư thực, tương hỗ cho đến các kỹ thuật chuyển chiết, đốn toả, tàng phong, lộ phong… đều ảnh hưởng trực tiếp tới việc biểu hiện hình thái của chữ. Mỗi danh gia đều bỏ công sức nghiên cứu rất kỹ về phương diện dụng bút, từ đó để hình thành nên phong cách đặc trưng của họ. Vì vậy, những người mới học cần nắm được vấn đề này trước tiên, mới có thể tiếp tục lâm mô được. Đối với đặc trưng dụng bút trong chữ Liễu thể, cần nắm những điểm sau:

1. Nhan thể lấy sự đầy đặn làm chủ yếu, Liễu thể lấy sự gân guốc làm chủ yếu, người ta gọi là “nhan cân, Liễu cốt – 颜筋柳骨”. Mặc dù vậy, khi viết Liễu thể, không được quá chú trọng vào sự gầy guộc khiến cho đường nét bị khô và quá mảnh.

2. Chữ của Liễu Công Quyền dùng cả “phương bút – 方笔” và “viên bút – 圆笔”. Phương bút chỉ vào các đường nét lộ ra góc cạnh khi khởi bút và thu bút, sử dụng kỹ thuật nghịch phong. Viên bút chỉ vào chỗ tròn trịa của đường nét, dùng kỹ thuật quả phong – 裹锋, không để cho ngòi bút bị phân tán; khi hành bút không chiết, không đốn, viết đến cuối nét thì không hồi phong thu bút, không chiết, không đốn. Viên bút thể hiện sự đầy đặn, hồn hậu.

3. Nếu hoành khởi bút ngay ngắn, toàn dùng chiết phong khởi bút. Nét đoản hoành (ngang ngắn) khá thô tráng vì nhấn bút mạnh; nét trương hoành kéo dài lấy thế, giữa nét mảnh lại vì khi hành bút tới giữa nét thì hơi nhấc lên. Những nét trường hoành ở đầu chữ Liễu Công Quyền thường nhỏ ở giữa hoặc đốn đậm ở cuối, độ dài lớn, có lúc dài đột xuất. Bút thế nét ngang tuy hướng nghiêng lên phía trên bên phải nhưng người ta vẫn thấy bình ổn. Có lúc, đầu nét ngang hơn thấp, ở giữa vồng lên, tựa như lật ngược con thuyền, loại này cũng thường gặp trong chữ Liễu như chữ “thư – 书”, “quỹ – 昼”, “chân – 真”… Nếu là nét hoành trong bộ thủ đứng bên trái, để nhường không gian cho bộ phận bên phải, nét hoành thường phải viết nhỏ ở đầu bên phải, gọi là nét “hữu tiêm hoành – 右尖横”; trong các trường hợp ngược lại, sử dụng nét hoành có đầu nhỏ bên trái, gọi là nét “tả tiêm hoành – 左尖横”.

4. Khởi bút nét sổ, chiết bút được nhấn mạnh. Việc áp dụng huyền châm hay thuỳ lộ tuỳ theo yêu cầu của chữ. Nét sổ ở giữa chữ thường dùng huyền châm, thu về trên không, lực dồn đầu ngòi bút. Nét sổ ở trái và phải, có loại huớng trái, có loại hướng phải, thấy trong các chữ “viên – 圆”, “thần – 臣”, “điêu – 雕”…

5. Nét chấm trong chữ Liễu, gồm đủ cả vuông tròn, biến hoá khá nhiều. Loại ở trên bộ “miên” thường dùng thụ điêm (chấm thẳng), nét chấm bên cạnh của bộ “miên” thường dùng đoản thụ điểm, có thể thấy loại này trong các chữ “quan – 官”, “trạch – 宅”… Ngoài ra còn có loại chấm đầu chữ ‘văn” (văn tự điểm – 文字头), có thể tròn hoặc vuông ở thế nghiêng. Nét điểm vuông có hình thế như chém đinh, chặt sát; nét điểm trong có hình thế tròn đậy, như trong chữ “chủ – 主”, “huyền – 玄”…

6. Nét phẩy trong chữ Liễu viết nhanh; nét mác kéo phần chân hơi dài, cuối nét mảnh. Chỗ giao giữa nét mác và nét phẩy thường là phẩy mảnh, mác đậm, giống Nhan thể.

7. Bộ 4 chấm Hoả, hai chấm giữa thường lấy nét đoản thụ làm thành nét điểm; Bộ mịch 3 chấm cũng lấy đoản thụ làm nét chấm ở giữa; bộ 3 chấm thuỷ, nét chấm cuối hết lên chiếu đúng vào cuối nét chấm đầu tiên, tạo thế hô ứng.

8. Những chữ có hình tứ giác ôm trọn như chữ “khẩu – 口”, “viết – 曰”… thì hai góc trên thường rộng hơn 2 góc dưới, hai mặt đối xứng nhau như hình thang cạnh dưới nhỏ.

9. Những chữ có phần ” 口” ôm bên ngoài, nếu trong không còn nét nào khác thì nét sổ bên trái sẽ kéo dài ra khỏi khuôn khổ; ngược lại, nếu bên trong có các bộ phận khác, nét sổ móc bên phải sẽ dài hơn

10. Nét phẩy của chữ Mộc – 木 (kể cả khi đóng vai trò bộ thủ) thường dựa lên trên nét sổ, không vượt quá nét sổ.

11. Nét thụ loan câu – 竖弯钩 (sổ móc cong) đều dùng viên chuyển.
  
12. Nét loan câu trong dạng chữ “phong – 风” có hình cong đặc biệt nhất mạnh tới mức như 1/3 đường tròn; nét câu hết sức đầy đặn, lấy từ pháp độ của Chử Toại Lương mà ra.

Hội họa Chợ Lớn một thời

Hội họa Chợ Lớn một thời
Phạm Hoàng Quân

Với người dân Chợ Lớn, nhất là những hoạ sĩ, vẽ tranh là thú thư giãn và cũng là cách để gìn giữ di sản.

Cách nay 75 năm, họa sĩ Lưu Khúc Tiều (hiệu Sài Định, 1900 – 1978), sau khi du học ở Nhật và Pháp, mở lớp dạy vẽ tranh sơn dầu (oil painting) ở Chợ Lớn, hoạt động mỹ thuật này có thể xem là khá sớm trong lịch sử hội hoạ Chợ Lớn, nhưng hoạ phái theo Tây này nhanh chóng lạc lõng. Ngày nay nhiều tiệm sách cũ ở Sài Gòn – Chợ Lớn còn bày bán tập tranh Lưu Khúc Tiều Sài Định họa tập in năm 1971.

Hoạt động hội họa của người Hoa ở Chợ Lớn chỉ mới được du nhập từ bản quốc vào khoảng thập niên 30 thế kỷ trước, theo bước chân của giới trí thức, văn nghệ sĩ chạy loạn cuộc chiến Trung – Nhật. Thời điểm này cũng là giai đoạn định hình của ba trường phái lớn của hội hoạ thủy mặc Trung Hoa là Kinh phái, Hỗ phái và Lĩnh Nam phái.

Hỗ phái

Cổ Tùng hiệu chủ nhân Hà Lạng Hùng là môn đồ Hỗ phái, người huyện Tân Hội, Quảng Đông, từng theo học Vương Nhất Đình, sang Việt Nam năm 1932, dạy văn chương và hội hoạ ở trường trung học Trung Hoa, Hà Nội. Năm 1946 vào Chợ Lớn, giảng dạy tại các trường Quảng Triệu, Tuệ Thành, Lĩnh Nam… Cách nay năm năm, bà Đinh Lan Phương, học trò và cũng là phu nhân của Hà tiên sinh, giới thiệu vựng tập Thế giới Hà thị tông thân họa triển in ở Hương Cảng năm 2000, qua đó cho thấy Hà Lãng Hùng từng được bảo tàng lịch sử Mỹ thuật Đài Bắc mua tranh và triện khắc vào các năm 1966 và 1971. Môn đồ Hỗ phái ở Chợ Lớn nay phần nhiều định cư hải ngoại, trong số hữu danh có họa sĩ người Việt Nguyễn Thị Hảo.

Kinh phái

Năm 1854, môn hội họa thủy mặc được trường cao đẳng Mỹ thuật (Sài Gòn) đưa vào chương trình giảng dạy chính thức, họa sĩ Đới Ngoan Quân là người đầu tiên phụ trách môn học này. Đới Ngoan Quân người Quảng Đông, tốt nghiệp họa viện Quảng Châu, môn đồ Kinh phái, là một trí thức đa tài, vẽ tranh, viết chữ, điêu khắc môn nào cũng tinh tế. Ngoài các họa sĩ người Hoa, tầm ảnh hưởng của Đới Ngoan Quân lan rộng đến thế hệ họa sĩ người Việt đương thời, kỳ pháp dụng bút, mực trong thủy mặc được linh động ứng dụng trong tranh màu nước và tranh lụa. Năm 1992, một triển lãm cá nhân của Đới Ngoan Quân được tổ chức tại trung tâm Văn hoá Pháp (TP.HCM). Cách đây năm năm, điêu khắc gia Bàng Nghiêu Dân, người thông dịch khi Đới Ngoan Quân giảng học, cho biết ông Đới vẫn sống ở Pháp và sáng tác đều đặn, dù tuổi đã quá 90.

Cùng xuất thân từ Kinh phái còn có họa sĩ Chiêm Quốc Hùng, người Quảng Đông, tốt nghiệp họa viện Quảng Châu, thụ nghiệp thuỷ mặc truyền thống với các danh họa Trung Quốc như Hoàng Quân Bích, Triệu Hạo Công. Từ năm 1956 đến 1975, dạy thủy mặc ở trường cao đẳng Mỹ thuật Huế, các hoạ sĩ người Việt Tôn Thất Văn, Đinh Cường lĩnh hội nhiều ở bút pháp họ Chiêm. Sau năm 1975, Chiêm Quốc Hùng vào Sài Gòn, dạy vẽ tại nhà riêng, trong số những người đến thụ nghiệp có Trương Lộ, hiện là một hoạ sĩ hữu danh. Trương Lộ chịu ảnh hưởng nhiều ở ông về kỹ pháp công bút và ký họa nhân thể.

Nếu có dịp ghé chùa Hoa Nghiêm (của người Hoa) trên đường Trần Kế Xương quận Phú Nhuận, hãy tham quan ngôi tháp phía sau chùa, đó là một công trình điêu khắc đá độc đáo. Tám phiến đá kết thành tám mặt tháp là một bộ tranh khắc liên hoàn, hình tượng 16 vị La Hán, thần thái sinh động và linh dị. Từ bộ tranh gốc của Quán Hưu thời Ngữ Đại, bộ tranh này là một phiên bản xuất sắc không kém các phiên bản ở những ngôi chùa vùng Tứ Xuyên, Quảng Tây, kể cả bộ khắc gỗ lưu ở Tịnh Từ tự, Tây Hồ, Hàng Châu. Người thực hiện bộ tranh này là họa sĩ Tả Bạch Đào, người Hồ Nam, học họa viện Quảng Châu sống ở Chợ Lớn từ năm 1954. Hoạ sĩ Trần Đức Minh thuật lại rằng, thầy tôi đã ở hẳn trong chùa và ăn chay suốt hơn mười tháng để hoàn thành tác phẩm tuyệt xảo đó.

Lĩnh Nam phái

Nhiều họa sĩ người Hoa hữu danh hiện nay như Lý Tùng Niên, Lư Tòng Đạo, Mạc Ái Hoàn, Trương Hán Minh, Lý Trung Lương… xuất thân từ Đông Phương nghệ uyển, một trường vẽ theo họa phái Lĩnh Nam, do Lương Thiếu Hàng mở tại Chợ Lớn năm 1960. Trong những họa sĩ tiên phong, có lẽ Lương Thiếu Hàng, là người được nhiều thành tựu, môn đồ đông đảo, trong đó có nhiều người thành danh. Trong lời tựa vựng tập Nam tứ họa san in năm 1966, Lương Thiếu Hàng viết: “Tôi sinh trưởng trong một gia đình nông dân, sớm mồ côi cha… vừa trưởng thành, tôi được ông Lý Thọ Ấm, một họa sĩ có tiếng, chỉ dạy khá nhiều về hội họa. Kế đến tôi theo học trường Mỹ thuật Đông Nam ở Quảng Châu, sau khi tốt nghiệp, tôi lại xin học trường Mỹ thuật Vạn Quốc ở Hương Cảng để nghiên cứu cách dung hoà nghệ thuật Đông – Tây. Vừa lúc gặp môn phái hội họa Lĩnh Nam đang lúc hưng khởi, khiến tôi tìm đến Lĩnh Nam hoạ uyển và xin học với thầy Triệu Thiếu Ngang”.

Lúc Lương Thiếu Hàng tìm đến cầu học, Triệu Thiếu Ngang đã lừng lẫy danh tiếng, họ Triệu đã đưa nghệ thuật Lĩnh Nam lên tới đỉnh, là truyền nhân của Cao Kỳ Phong (một trong Lĩnh Nam tam kiệt), họ Triệu đã gây tiếng vang lớn trong nước và ảnh hưởng đến Hoa kiều của hơn mười quốc gia hải ngoại. Trong hơn mười hoạ sĩ xuất sắc đời thứ hai phái Lĩnh Nam, Từ Bi Hồng nhận định rằng Triệu Thiếu Ngang xứng đáng là thủ lĩnh.

Lý thuyết và lược sử hội họa Trung Hoa, được trình bày có hệ thống, được biết sớm ở Việt Nam do họa sĩ Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ (đồng sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương) với thiên khảo cứu Pháp ngữ La Peinture Chinoise đăng trên tạp chí Nam Phong số tháng 11.1929.

Hoạ Họa đàn Chợ Lớn những năm 60, 70 bắt đầu phấn phát, các bậc tiền bối ươm giống gieo mầm đều là những trí thức tài hoa, hầu hết xuất thân từ những trường vẽ lớn ở Trung Quốc hoặc được thụ nghiệp với các cao thủ trong làng hội họa.

Năm 1970, trong một cuộc triển lãm gây quỹ mua sắm trang thiết bị cho bệnh viện Sùng Chính (nay là trung tâm Chấn thương chỉnh hình) đã có đến 113 họa sĩ tham dự, cùng với 30 hoa sĩ đến từ Hương Cảng và 64 hoạ sĩ đến từ Đài Loan. Cuộc triển lãm có quy mô tổng lực này tề tựu thầy trò của đủ bốn phái ở Chợ Lớn (Tây hoạ Sài Đinh; Kinh phái Đới Ngoan Quân, Tả Bạch Đào; Hỗ phái Hà Lãng Hùng; Lĩnh Nam Lương Thiếu Hàng), họa sĩ Lý Tùng Niên, người đã tham dự cuộc bày tranh này, năm nay 78 tuổi, mắt sáng lên khi nghe nhắc đến chuyện cũ, ông bảo rằng đó là cuộc triển lãm ấn tượng nhất trong đời, là cuộc hội ngộ sinh động và rất đẹp.

Ba họa phái

Vùng Bắc Bình và các hoạ viện vẫn trung thành với phương pháp truyền thống, gọi là Kinh phái (Quốc tuý phái) với đại biểu Kim Thành, Diêu Hoa…; vùng Thượng Hải, Hàng Châu hình thành Hỗ phái với Vương Nhất Đình, Ngô Đại Trừng… cách tân thủy mặc theo xu hướng bố cục Tây họa, màu sắc mạnh mẽ; vùng Quảng Châu, Lĩnh Nam phái được sáng lập bởi ba bậc thầy từng du học nhiều năm ở Nhật Bản: Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân. Những hoạ sĩ xuất thân từ phái họa Kinh, Hỗ, Lĩnh Nam lần lượt sang Chợ Lớn.

Đặc điểm, ước lệ của ba phái:

1. Kinh phái: đường nét được khảo tả cẩn thận, chỉn chu, nét viền nhuyễn màu sắc với gam màu trung hoà, dùng nhiều các màu chàm, vàng đất, son nhẹ. Bố cục kín đáo, không thưa, không dày.

2. Hỗ phái: đường nét vững chắc, nét viền to, không đều, màu sắc tương phản, sắc độ đậm. Bố cục thật dày khít hoặc để trống nhiều nơi.

3. Lĩnh Nam: đường nét giản lược hoặc không sử dụng nét viền, màu sắc đậm và chuyển sắc độ nhanh. Bố cục thoáng, mặt tranh nhiều phần trắng.

NHỮNG TRI THỨC CƠ BẢN VỀ THƯ PHÁP (TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 4(53) NĂM 2002)

NHỮNG TRI THỨC CƠ BẢN VỀ THƯ PHÁP

THẾ ANH

Thư pháp là một môn nghệ thuật độc đáo của Trung Hoa. Nói nôm na thư pháp là phép viết chữ, mà cụ thể ở đây là chữ Hán – một thứ chữ do người Trung Hoa sáng tạo hoặc văn tự của các nước đồng văn như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên có chung cội nguồn với chữ Hán.

Đến nay chưa có tài liệu nào cho biết một cách chính xác thời gian ra đời của chữ Hán và ai đã sáng tác ra nó. Có thuyết cho rằng Thương Hiệt – một sử quan của Hoàng đế đã sáng tạo ra chữ Hán (Thương Hiệt tác thư), song thuyết này không được các nhà nghiên cứu văn tự học chấp nhận và cho rằng Thương Hiệt chỉ là người có công thống nhất và hệ thống lại văn tự chứ không phải là người sáng tạo ra nó. Căn cứ vào các hiện vật thu lượm được ở di chỉ Tiểu Đồn huyện An Dương (tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), người ta ước tính là chữ Hán đã xuất hiện rất sớm vào đời nhà Thương cách chúng ta trên 3000 năm. Đó là những mảnh mai rùa và xương thú có khắc một loại chữ gọi là giáp cốt (甲 骨 文) (giáp cốt văn). Trên các hiện vật đã phát hiện có khoảng 4500 chữ và các nhà nghiên cứu đã đọc được 1700 chữ. Nội dung của nó là những quẻ bói, người đương thời khi muốn bói hoặc hỏi một việc gì đó thì khắc lên trên mai rùa hoặc xương thú rồi đem ra cúng tế, sau đó đem hơ lửa và thầy bói căn cứ vào những đường rạn nứt trên đó để đoán ý của trời đất, thần thánh hoặc gia tiên rồi trả lời cho gia chủ. Giáp cốt văn là dấu tích chữ viết xưa nhất của người Trung Hoa còn lại đến hôm nay và đó là tiền thân của chữ Hán. Cách cấu tạo chữ giáp cốt chủ yếu là phương pháp tượng hình tức là dùng hình vẽ để ghi lại sự vật. Ví dụ muốn thể hiện chữ mã thì vẽ hình con ngựa có lông gáy, chân và đuôi, chữ ngư thì vẽ hình con cá có đầu nhọn, mình có vảy và đuôi chẻ ra hai bên; chữ mục thì vẽ hình con mắt, chữ nhật thì vẽ hình mặt trời có làn sáng nhấp nháy bên trong… Cách nói thư họa đồng nguyên (viết và vẽ có chung nguồn cội) là xuất phát từ cơ sở đó(1).

Sau giáp cốt văn khoảng 3 thế kỷ, dưới thời Tây Chu đã xuất hiện thể chữ viết gọi là kim văn (金 文) (còn gọi là chung đỉnh văn hay minh văn) là loại chữ viết trên đồ đồng hoặc chuông vạc, phần lớn nội dung có liên quan đến việc cúng tế, chinh phạt, ban thưởng… Theo lệ nhà Tây Chu mỗi lần nhà vua đem ruộng đất hoặc người lao động ban thưởng cho các quý tộc đều có ghi lại trên chuông đỉnh làm kỷ niệm, nên thời kỳ này kim văn khá phát triển. Về thể chữ kim văn thì vẫn mang dáng dấp của chữ giáp cốt, nhưng ngay ngắn và vuông vức hơn. Ngoài ra người ta còn phát hiện được chữ viết thời Tây Chu khắc trên trống đá gọi là thạch cổ văn (石 鼓 文). Các thể chữ giáp cốt văn, kim văn, thạch cổ văn được gọi một tên chung là chữ đại triện (大 篆) hay cổ văn (古 文)(2).

Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất đất nước đã thực hiện cải cách văn tự, loại bỏ tất cả những chữ dị thể ở các địa phương khác và dùng một thể chữ thống nhất trong toàn quốc. Đó là chữ tiểu triện (小 篆) (còn gọi là Tần triện). So với đại triện, tiểu triện đơn giản, ngay ngắn, tề chỉnh và chuẩn mực hơn. Đó là một bước tiến trong văn tự Trung Hoa. Tuy nhiên trong sử dụng chưa thoát ly hẳn hình vẽ, dùng nhiều đường nét uốn khúc, nên chữ triện viết rất chậm không thích hợp với nhu cầu cấp bách của việc soạn thảo công văn, giấy tờ hành chính nên chữ triện đã được cải tiến thành chữ lệ (隸 書) đơn giản, dễ viết hơn và đã trở thành một thể chữ thông dụng dưới thời nhà Hán với những nét hất đầu tằm, đuôi nhạn mang tính nghệ thuật cao. Về cơ bản chữ lệ giống với chữ Hán hiện đại(3).

Đồng thời với lệ thư còn có thảo thư (草 書) được hình thành trên cơ sở của chữ lệ. Trong cuốn Thảo thư trạng có viết về nguồn gốc của chữ thảo như sau: “Trước đây vào thời nhà Tần các nước chư hầu tranh nhau làm bá chủ, những lời hịch ngắn gọn truyền cho nhau, trông theo ngọn lửa báo động mà chạy ngựa trạm đưa tin, nếu dùng chữ triện và chữ lệ thì không thể viết nhanh được, do đó mới có chữ thảo như hiện nay”(4). Chữ thảo viết rất nhanh nên nhiều nét có thể giản lược, nét bút phóng túng bay lượn không bị gò bó, biến hóa linh hoạt, tạo thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Sự xuất hiện của chữ thảo làm cho chữ Hán có những đặc điểm thẩm mỹ cao. Có hai loại thảo thư là chương thảo (章 草) và kim thảo (今 草).

Chương thảo là lối viết nhanh và còn giữ lại nhiều thế bút của lệ thư. Chương thảo khởi nguyên từ cuối Tần, đầu Hán và lưu hành rộng rãi vào thời Lưỡng Hán. Chương thảo còn có tên là lệ thảo (隸 草) hoặc cổ thảo (古 草). Các nhà thư pháp nổi tiếng về chương thảo là Sử Du (史 游) và Trương Chi (張 芝). Thời Tam Quốc Ngụy, Vĩ Đản đã tôn xưng Trương Chi là thảo thánh. Hai cha con họ Vương (Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi) sống sau họ Trương khoảng 200 năm cũng chịu ảnh hưởng và sùng bái mặc tích của Trương Chi, và cũng được người đời tụng xưng là “Thảo thánh nhị vương”. Còn tại sao lại có tên gọi là chương thảo thì đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Có người cho rằng lúc đương thời thể chữ này thường dùng để viết chương tấu nên gọi là chương thảo (?).

Kim thảo dùng để chỉ chữ thảo được dùng từ thời Tấn – Đường và thông dụng đến ngày nay. Tương truyền là Trương Chi đời Đông Hán sáng tác ra kim thảo: chữ trên chữ dưới liên tục dính liền với nhau, có khi lấy phần cuối của chữ trước làm phần đầu của chữ sau. Kim thảo còn có tên gọi là tiểu thảo (小 草) hoặc độc thảo (獨 草), nếu khi viết từng chữ rời ra, gọi là đại thảo (大 草), hoặc cuồng thảo (狂 草), nếu nét bút tung hoành viết liền một mạch như phượng múa rồng bay. Hai đại thư gia tiêu biểu của cuồng thảo là Trương Húc (張 旭) và Hoài Tố (怀 素) đời Đường, người đời gọi hai ông là Cuồng thảo nhị tuyệt (狂 草 二 絕). Tương truyền là Đường Văn Tông rất mê thư pháp của Trương Húc và đã ban chiếu chọn ba nhân vật kiệt xuất (tam tuyệt) là thi tiên Lý Bạch, nghệ thuật múa kiếm của Bùi Mân và thảo thư của Trương Húc(5).

Đến cuối đời Hán đầu đời Ngụy lại xuất hiện một thể chữ gọi là khải thư (楷 書) (còn gọi là chân thư hoặc chính thư). Thể chữ này được hình thành và cải tiến từ lệ thư và chương thảo. Khải thư dễ viết: ngang bằng, sổ ngay, chân phương, rõ ràng, vận bút linh hoạt. Từ Ngụy Tấn về sau khải thư chiếm địa vị chính thống và coi như thể chữ chính quy được lưu hành rộng rãi và thông dụng đến ngày nay. Người xưa đã có câu ví “Chữ khải như thế đứng, chữ hành như đi, chữ thảo như chạy” (khải như lập, hành như tẩu, thảo như bôn). Thật vậy, thế đứng có vững vàng thì mới đi và chạy được. Do đó người mới học thư pháp phải lấy chữ khải làm cơ sở. Trong vấn đề học tập chữ khải người ta thường nhắc đến các phong cách khải thư như Âu thể, Nhan thể, Liễu thể, Triệu thể. Đó là bốn thư pháp gia tiêu biểu Âu Dương Tuân 歐 陽 詢 (Sơ Đường), Nhan Chân Khanh 顏 真 卿 (Thịnh Đường), Liễu Công Quyền 柳 公 權 (Vãn Đường) và Triệu Mạnh Phủ 趙 孟 (Nguyên). Âu thể thì thanh tú trang nghiêm; Nhan thể thì mộc mạc, mạnh mẽ; Liễu thể thì cứng cỏi quật cường; Triệu thể thì yểu điệu, kiều diễm. (Âu kình, Nhan cân, Liễu cốt, Triệu thể nhục).

Hành thư (行 書) là một thể chữ trung gian ở giữa khải thư và thảo thư, nó bao gồm cả các yếu tố khải và thảo. So với triện, lệ và khải thì hành thư viết nhanh và dễ đọc hơn triện thư và thảo thư mà chữ viết lại linh hoạt, kết hợp được nét chân phương bình dị của khải thư và bay bướm phóng khoáng của thảo thư nên phát huy được hiệu quả nghệ thuật được nhiều người ưa chuộng và mang tính thực dụng cao. Lối viết gần với chữ khải thì gọi là hành khải, gần chữ thảo thì gọi là hành thảo.

Nói đến thư pháp, từ xưa đến nay mọi người vẫn tôn sùng Vương Hy Chi 王 羲 之 (307 – 365 đời Tấn) là vị tổ kế thừa môn nghệ thuật này. Ông theo học Vệ Phu Nhân 衛 夫 人 (272 – 349) và đã dày công nghiên cứu bút tích của các danh nhân lớp trước nên đã vươn tới đỉnh cao của môn nghệ thuật thư pháp. Kiệt tác Lan Đình tự 蘭 亭 序 của ông đã được người đời đánh giá là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”. Câu chuyện về thiếp Lan Đình như sau: Vào năm Vĩnh Hòa thứ 9 (353) Vương Hy Chi cùng Tạ An, Tôn Xước, Khích Đàm… gồm bốn mươi mốt người hội ở Lan Đình xướng họa vui chơi. Nhân dịp này Vương Hy Chi đã viết bài tựa cho tập Lan Đình thi tập theo thể hành thư tuyệt đẹp. Người đời sau phỏng dập khắc in để tập viết gọi là thiếp Lan Đình mà Nguyễn Du cũng đã có lần nhắc đến trong tác phẩm Truyện Kiều. Tương truyền là Đường Thái Tông vì quá say mê thư pháp của Vương Hy Chi nên có khi nửa đêm vẫn chong đèn nghiền ngẫm và luyện tập, nhà vua còn sai các nhà thư pháp chép lại làm vật ban thưởng cho người được nhà vua ưu ái. Trước lúc băng hà, Đường Thái Tông đã yêu cầu chôn bức Lan Đình tự nguyên bản xuống mộ cùng nhà vua. Một điều đặc biệt là Vương Hiến Chi 王 獻 之 (344 – 386), con thứ bảy của Vương Hy Chi cũng là một thư pháp gia nổi tiếng. Ông tinh thông cả các thể chính, hành, khải, lệ. Các nhà thư pháp Đường Tống rất hâm mộ và chịu ảnh hưởng của ông. Hai cha con họ Vương được người đời tôn xưng là “Nhị vương”.

Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa không ngừng phát triển, thời đại nào cũng có những đại biểu xuất sắc: đời Đường có Âu Dương Tuân, Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền, đời Nguyên có Triệu Mạnh Phủ như chúng tôi đã đề cập đến ở trên. Ngoài ra đời Đường còn có Ngu Thế Nam, Chử Toại Lương, Lý Ung; đời Tống có Tô Đông Pha, Mễ Phất, Hoàng Đình Kiên…; đời Minh có Kỳ Xương; đời Thanh có Trịnh Bản Kiều, Lưu Dung, đặc biệt cả hai vị hoàng đế là Khang Hy và Càn Long cũng là những người say mê nghệ thuật thư pháp. Hiện ở Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội còn lưu giữ bút tích của vua Khang Hy.

Để có một tác phẩm thư pháp hoàn chỉnh đảm bảo về mặt thẩm mỹ và nghệ thuật, ngoài yêu cầu về chữ nghĩa, vấn đề bố cục (trong thư pháp gọi là chương pháp (章 法), thiên pháp (篇 法) hoặc bố bạch (布 白) có một vị trí rất quan trọng. Một tác phẩm thư pháp có bố cục hợp lý, hài hòa, cân đối sẽ mang lại những ấn tượng tốt đẹp cho người thưởng thức, ngược lại một bức thư pháp dù có nét chữ bay bướm nhưng bố cục sơ sài, cẩu thả, chữ viết không thành hàng lối, khoảng trống xung quanh quá thừa hoặc quá thiếu thì sẽ gây phản cảm cho người thưởng thức. Các nhà thư pháp thường lấy chương pháp bài Lan Đình tự của Vương Hy Chi làm mẫu mực. Toàn bài mạch lạc thông suốt, tiền hô hậu ứng, biến hóa linh hoạt, huyền diệu vô cùng. Lan Đình tự có 20 chữ chi thì mỗi chữ có một cách viết mang thần thái khác nhau nhưng bố cục của bài không bị phá vỡ mà vẫn có sự giao ứng hài hòa tương tiếp.

Một bức thư pháp hoàn chỉnh bao gồm chính văn (正 文), đề khoản (題款) và ấn chương (印 章). Dòng chữ không nằm trong chính văn gọi là đề khoản (lạc khoản). Đề khoản không đúng quy cách sẽ làm giảm giá trị của tác phẩm, ngược lại đề khoản thích hợp sẽ làm cho người thưởng thức hoặc được trao tặng đón nhận một cách nhiệt tình. Nội dung lạc khoản phải rõ ràng, chính xác và đơn giản. Lạc khoản chia ra thượng khoản và hạ khoản. Thượng khoản ghi tên người nhờ viết và kèm theo khiêm từ như thanh thưởng, nhã thuộc, nhã chính, phủ chính (清 賞, 雅 屬, 雅 正, 斧 正) hoặc nhã tồn, huệ tồn, huệ niệm (雅 存, 蕙 存, 蕙 念)… Hạ khoản có thể ghi xuất xứ của chính văn và tên (hoặc bút danh) người viết, thời gian và địa điểm viết. Nếu chính văn là tác phẩm nổi tiếng thì có thể ghi thêm khiêm từ như Kính thư, Kính lục (敬 書, 敬 錄). Thượng khoản và hạ khoản còn có tên gọi chung là song khoản (雙 款). Trường hợp không ghi thượng khoản mà chỉ có hạ khoản thì gọi là đơn khoản (單 款)(6).

Vị trí để ghi lạc khoản cũng cần linh hoạt tùy theo khuôn khổ của bức thư pháp để đảm bảo tính thẩm mỹ, tuy nhiên dòng lạc khoản không nên để cao ngang với phía trên bản chính văn hoặc để quá thấp xuống phía dưới.

Thể chữ trong chính văn và lạc khoản cũng có sự quy định theo tập quán thưởng thức, nếu chính văn là triện thư thì lạc khoản là lệ, khải hoặc hành thư; chính văn là lệ thư thì lạc khoản là khải hoặc hành thư; chính văn là thảo thư thì lạc khoản là thảo hoặc hành thảo; chính văn là hành thì lạc khoản là hành thư hoặc hành thảo. Chữ hành viết linh hoạt lại dễ đọc, do đó người ta thường dùng hành thư để ghi lạc khoản cho bất cứ thể chữ nào trong chính văn.

Trong một bức thư pháp hoàn chỉnh không thể thiếu ấn chương (con dấu). Nếu con dấu đặt đúng vị trí, nó làm cho tác phẩm tăng thêm giá trị, giống như cành lá có điểm thêm bông hoa đẹp. ấn chương có hai loại là danh chương (名 章) và nhàn chương (閑 章). Danh chương là con dấu khắc tên (hoặc bút danh) của tác giả và thường đóng phía dưới hoặc bên trái tên người viết ở hạ khoản. Danh chương không nên quá to hoặc quá bé, thông thường bằng 2/3 chữ lạc khoản là vừa, nó sẽ làm nổi bật màu đen và hồng của dòng lạc khoản và danh chương. Đôi khi người ta còn dùng hai danh chương bằng nhau: một khắc chìm (gọi là âm văn hay bạch văn) khi đóng lên có nét chữ trắng, một khắc nổi (gọi là dương văn hay chu văn) khi đóng lên có nét chữ màu đỏ.

Nhàn chương là con dấu có khắc những câu nói có ý hay, lời đẹp, những câu danh ngôn, thành ngữ hoặc những câu có hàm ý khuyên răn… tùy theo tâm tư, hoài bão và ý chí của chủ nhân. Nhàn chương rất đa dạng, có khi chỉ là con dấu ghi ngày tháng hay tên thư trai, thảo đường của tác giả. Vị trí đóng nhàn chương thường ở phía trên, bên phải chính văn. Cần chú ý khi sử dụng nhàn chương là nội dung phải phù hợp với nội dung trong chính văn, nếu không sẽ trở nên buồn cười và phản tác dụng.

Do khuôn khổ của bài viết, trên đây chúng tôi chỉ mới nêu lên một vài điểm khái quát trong môn nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa và chưa đề cập đến những thao tác cụ thể mang tính kỹ thuật. Có dịp chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này.

T.A

CHÚ THÍCH

(1) Trung Quốc thư pháp sử 中 國 書 法 史. Thiên Tân, Nhân dân mỹ thuật xuất bản xã, 2000.

(2) (3) Thư pháp tự điển 書 法 字 典. Thành Đô, Khoa kỹ Đại học xuất bản xã, 1991.

(4) (5) Thư pháp tự điển 書 法 字 典. Nxb. Văn nghệ và Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2000.

(6) – Khải thư nhập môn tự phổ 楷 書 入 門 字 譜. Quảng Tây, Mỹ thuật xuất xã 1995.

– Thư pháp tự điển 書 法 字 典. Thành Đô, Khoa kỹ Đại học xuất bản xã 1991.

– Cương bút thư pháp tự học giáo trình 鋼 筆 書 法 自 學 教 程. Triết Giang, Khoa học kỹ thuật xuất bản xã 1997.